Kỹ thuật nhân giống một số cây ăn quả

Thứ ba - 20/03/2018 23:04 276 0
Yêu cầu vườn ươm phải là trên nền đất bằng phẳng, khô ráo, dễ thoát nước và gần nguồn nước tưới.
Nhân giống cây ăn quả
Nhân giống cây ăn quả
PHẦN 1. KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG MỘT SỐ CÂY ĂN QUẢ  CHỦ YẾU TRONG VƯỜI. VƯỜN ƯƠM, LUỐNG ƯƠM VÀ CÁCH ƯƠM CÂY GIỐNG.
Yêu cầu vườn ươm phải là trên nền đất bằng phẳng, khô ráo, dễ thoát nước và gần nguồn nước tưới.
Vườn ươm có thể là vườn hoặc một nền sân lát gạch hoặc xi măng, phía trên có mái che bằng tấm lợp, nilon hoặc bằng lá...
Trên vườn ươm bố trí thành các luống để ươm, luống ươm rộng khoảng 1-1,2 m có rãnh để đi lại.
Luống ươm là nơi gieo hạt, cây con mọc nên rất dày, chỉ một thời gian ngắn sau khi mọc đã phải nhổ lên, đem trồng vào bầu. Vì là nơi ươm cây mới mọc nên đất phải tốt, thoáng có thể trộn nhiều tro, trấu bổi, chăm tưới cho đủ độ ẩm và trên luống ươm phải có mái che để điều tiết ánh sáng.
Cần chú ý là ở luống ươm cây non rất dễ bị sâu bệnh phá hoại nên luống phải cao, thoát nước tốt, làm đất phải kỹ sau đó để ải một thời gian để giảm bớt mầm bệnh.
Luống cũng là nơi ươm các cây giống chuyển từ nơi khác về, các cành chiết vừa mới hạ, và các cây gốc ghép.
Cây gốc ghép được ươm trong bầu, bầu làm bàng túi Polyetylen (PE) thường mầu đen có đục các lỗ thoát nước. Kích thước phô thuộc vào từng loại cây. Đất làm bầu phải tốt, trộn với phân chuồng hoai mục và phân vi sinh hữu cơ.
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG CHÍNH.
1. Gieo hạt:
Cách này dễ làm, cây nẩy mầm từ gieo hạt có bộ rễ chắc, sinh trưởng khỏe, thích ứng rộng với các điều kiện ngoại cảnh. Nhược điểm là lâu có quả và và khó giữ được các đặc tính của cây mẹ. Do vậy người ta chỉ nhân giống bằng hạt trong trường hợp những giống chưa tìm ra phương pháp nhân giống tốt hơn.
Nhân giống bằng hạt cần chú ý đến đặc tính sinh lý của hạt:
- Một số giống cây ăn quả chín sinh lý sớm, hạt có thể nẩy mầm ngay khi quả chín như mít, cam, quýt, đu đủ.
- Một số giống sau khi thu hoạch cần gieo ngay như vải nhãn, na, đu đủ.
- Một số giống trước khi gieo cần phải xử lý như ngâm nước nóng, gọt bớt vỏ hoặc đập nhẹ để tách lớp vỏ cứng như đào, mơ, táo, mận...
- Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh như độ ẩm đất 70-80%, nhiệt độ thích hợp từ 23-350C, đất gieo hạt phải tơi xốp, thoáng khí, sạch cỏ dại.
Có thể gieo hạt thẳng xuống luống ươm nhưng tốt nhất nên gieo vào bầu.
2. Tách chồi.
Đây là phương pháp nhân giống vô tính, áp dụng chủ yếu đối với các loại cây như chuối, dứa, hồng. Chọn các cây mẹ khỏe, không bị sâu bệnh, cây con có sức sinh trưởng tốt để tách. Với cây hồng thì có thể làm như sau: vào cuối mùa sinh trưởng (đầu vụ rét), khi cây con cao khoảng 0,5-0,8 m, đường kính gốc khoảng 1 m thì ta cắt ngang thân cách mặt đất 15 cm, cây sẽ mọc thành một số chồi, vun đất cao dần nên chân cành để rễ mọc ra dưới lớp đất vừa vun lên. Mỗi cành có thể trở thành một cây con và có thể đánh mang đi trồng hoặc ươm vào vườm ươm.
3. Chiết.
Chiết là phương pháp cổ truyền áp dụng với hầu hết các loại cây ăn quả. Ưu điểm của phương pháp này là cây giống vẫn giữ được các đặc tính tốt của cây mẹ, cây giống phát triển nhanh, chóng ra quả, nhưng nhược điểm là tốn công, hệ số nhân thấp, cây me bị tổn thương khá nhiều.
Cây chiết không nên quá già, tốt nhất là chiết trên những cây non, đang còn tơ, chiết những cành bánh tẻ, chọn cành xiên có nhiều ánh sáng, lá mọc dày, lóng ngắn, ở chỗ có nhiều ánh sáng. Không chiết những cành ở đỉnh ngọn, cành vượt mọc từ gốc hoặc ở chân các cành lớn vì khó ra rễ do nhiều nước, lóng dài đường bột tích lũy ít. Kích thước cành tùy thuộc vào từng loại cây, đường kính từ 1-3 cm, tuổi cành từ 1-3 năm.
Cánh chiết: nên chiết vào đầu mùa mưa khi nhựa lưu thông mạnh thì rất dễ bóc vỏ. Dùng dao sắc cắt 2 vòng ở chân cành, cách nhau độ 3-4 cm, bóc đi khoanh vỏ ở giữa, dùng dao cạo nhẹ lên phần gỗ dưới khoanh vỏ đã bóc để làm chết lớp mô phân sinh thứ cấp có thể làm vỏ tái sinh. Chờ 2-3 ngày lấy đất bùn phơi khô trộn với rơm, trấu, mùn cưa nhào với nước bó thành một bầu đất, bọc nilon ở phía ngoài (nên dùng nilon đen) để giữ ẩm cho bầu đất. Dây buộc phía trên nên chặt còn phía dưới thì lỏng hơn để đề phòng khi mưa nước lọt vào bầu có thể thoát xuống dưới dễ dàng.
Để cành chiết chóng ra rễ thì có thể dùng các chất kích thích ra rễ như NAA, IBA, IAA.... nồng độ 500-1000 ppm (phần triệu) bằng cách dùng chổi lông bôi vào miệng vết cắt ở phía trên khoanh vỏ được cắt đi. Cũng có thể trộn chất kích thích với đất bầu bó xung quanh vết cắt nhưng cách này tốn thuốc.
Khoảng 6-8 tuần sau khi chiết, cành chiết bắt đầu ra rễ, đợi khi rễ ra nhiều thì cắt cành chiết đem vào giâm trên luống ươm hay trong túi nilon. Che nắng và tích cực tưới, giữ ẩm khoảng 5-6 tuần khi cành chiết ra rễ thứ sinh mới đem trồng
4. Giâm cành (Cắm hom).
Hom là một đoạn thân, cành, rễ hay lá cắt rời khỏi cây mẹ, cắm xuống đất nếu gặp điều kiện thuận như nhiệt, độ ẩm thích hợp sẽ ra rễ nẩy mầm thành một cây mới. Phương pháp này áp dụng cho một số loại cây ăn trái nhưng chủ yếu cho hoa, cây cảnh. Ưu điểm của phương pháp này là hệ số nhân cao, nhân giống nhanh. Tuy nhiên phương pháp này khó làm do chi phí xây dựng vườn ươm cao, kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho cây con khó, phải dùng chất kích thích sinh trưởng
Nói chung các cây thân mềm khi cắm hom dễ sống hơn các cây thân gỗ. Chọn hom còn trẻ, dạng bánh tẻ, từ 2 tuổi trở lại, không chọn hom ở các cây già đã ra hoa kết trái nhiều lần khó sống. Hom nếu lấy ở đoạn cành dưới đã hóa gỗ gọi là hom gỗ rắn, khó ra rễ hơn nhưng chống chịu tốt, ít bị mất nước, chết héo. Hom cắt ở đầu cành non hơn, dễ chết héo nhưng vì còn non dễ ra rễ hơn nếu được chăm sóc tốt.
Cách giâm: đất cắm hom phải dễ thoát nước, tùy thuộc từng loại cây mà nền giâm có thể là cát sạch, cát pha đất mùn hoặc đất mùn...có thể giâm trực tiếp vào bầu.
Nền giâm phải đủ ẩm nhưng không quá nhiều nước, tưới thường xuyên dưới dạng phun mù để hom không mất nước và mát ngọn. Khi giâm có thể nhúng gốc hom vào dung dịch NAA, IBA, IAA nồng độ vài ngàn ppm hoặc phun dung dịch trên trực tiếp lên luống ngay sau khi giâm.
5. Ghép
5.1 Yêu cầu chung
- Gốc ghép: Gốc ghép non trẻ đang lên nhựa, nếu cần tưới 1 đợt phân urê nhẹ 0,5% 10 ngày trước khi ghép. Nên ghép vào vụ xuân là thích hợp nhất.
- Cây mẹ cho cành ghép: Trẻ khỏe đang lên nhựa. Khi ghép nhiều nên có một vườn cây mẹ (cây đầu dòng) được tuyển chọn kỹ, có chế độ chăm sóc đặc biệt để làm vật liệu ghép
- Giữ vệ sinh: càng sạch càng tốt vì các loài vi sinh vật xâm nhập vào chỗ ghép gây chết phần ghép.
- Dao ghép: phải thật sắc.
- Nilon quấn quanh chỗ ghép: Phải thật mềm và dai, khi mắt ghép phát triển chúng dễ dàng đâm thủng màng nilon để thoát ra ngoài.
- Dù ghép bằng phương pháp nào thì mô phân sinh của cành ghép và của gốc ghép phải tiếp xúc được với nhau càng nhiều càng tốt.
5.2 Các phương pháp ghép.
a. Ghép áp.
Gốc ghép trồng trong bầu được kê hay buộc lên cao gần cành ghép. Cắt hai lát để lộ mô phân sinh rồi buộc vào nhau.
Khoảng 2 tháng sau khi ghép thì có thể cắt rời cành ghép và đưa vào vườn ươm, khoảng một tháng sau thì có thể mang đi trồng. Có thể ghép rất nhiều loại cây bằng phương pháp này vì tỷ lệ sống cao do trước khi cắt rời cành cả cành ghép và gốc ghép đều sống trên bộ rễ của mình. Tuy nhiên phương pháp này ít được dùng vì ghép áp khá phức tạp: phải trồng gốc ghép vào bầu, buộc hay kê cao cho gần với cành ghép.
Còn một phương pháp ghép áp cải tiến là cắt cụt ngọn gốc ghép rồi cắt hai lát chéo nhau thành hình nêm, ở cành ghép chỉ cắt một nát, xiên từ dưới lên sau đó lùa gốc ghép vào buộc chặt.
b. Ghép mắt
Bóc lấy một mắt ở nách lá trên cành bánh tẻ của cây mẹ và trên gốc ghép cũng bóc đi một mảnh vỏ. Áp mắt ghép vào chỗ đã bóc vỏ trên gốc ghép rồi buộc lại. Khi mắt ghép nẩy mầm sẽ tự đâm ra ngoài tao thành một cây ghép. Ghép mắt có ưu điểm là tạo hiệu suất lao động cao, hệ số nhân lớn.
c. Ghép cửa sổ.
Mắt hình chữ nhật chiều dài 3-4 cm, chiều ngang 2 cm, mắt to dễ bóc hơn mắt bé nhưng cành để bóc phải to. Trên vỏ gốc ghép cũng phải bóc một mảnh vỏ tương đương. Muốn vậy lấy dao ghép rạch 2 đường dọc cách nhau vừa đúng chiều dài mắt ghép. Sau đó cắt một nhát ngang phía dưới, bóc vỏ thành một mảnh dài hơn chiều dài mắt ghép một chút, phía trên có dính với gốc ghép. Cho mắt ghép vào đúng vị trí đã bóc vỏ. Sau cùng cắt mảnh vỏ phía trên, để thừa một chút cho phủ kín mép trên của mắt, không buộc ngang qua mắt vì sẽ làm dập nát mắt. Muốn tỷ lệ sống cao cả cành ghép và gốc ghép đều phải nhiều nhựa, dễ bóc mắt. Tốt nhất là ghép vào đầu mùa mưa và phải chăm sóc tốt vườn gốc ghép và vườn cây đầu dòng.
D .Ghép chữ T.
Cắt một lát ngang, một lát dọc hình chữ T trên gốc ghép ở chỗ cách gốc 20-30cm. Lấy sống dao nậy khẽ để nâng vỏ gốc ghép ở giáp ranh 2 vết cắt ngang và dọc, mở một cửa vừa đủ để lùa mắt ghép vào. Khi lấy mắt ghép chỉ cần lia lưỡi dao dọc theo cành ghép từ dưới lên trên, lưỡi dao bập vào cành ghép ở phía dưới mắt cách khoảng 5-7 mm và chỉ một lát dao là lấy được một mắt ghép hình khiên.
Phía dưới mắt thường lấy theo một vảy gỗ mỏng có thể bỏ đi. Qua miệng mở, cầm mắt ghép bằng đầu phía trên của mắt ghép và lùa mắt ghép vào giữa chữ T từ trên xuống. Sau đó cắt lưỡi mắt ghép thừa lòi ra ngoài rồi dùng dây nilon buộc vào.
Ghép mắt hình khiên dưới vỏ hình chữ T rất tiện vì mắt nhỏ dễ lấy, nhân được nhiều cây và thường dùng cho những cây nhỏ như cam, quýt, chanh, ổi, táo,... và ghép cũng dễ sống.
e. Ghép mắt có gỗ.
Ghép mắt có gỗ chỉ cần cắt 2 lát dao trên gốc ghép lấy đi một mảnh (gồm cả vỏ lẫn gỗ) và cắt 2 lát dao ở cành ghép để lấy mắt (cũng cả gỗ và vỏ, lấp vừa khít vào gốc ghép). Đây là phương pháp ghép công nghiệp, theo tác nhanh, ít tốn mắt ghép, hệ số nhân cao, rất thích hợp cho các vườn kinh doanh cây giống.
F. Ghép cành.
Cành ghép lấy ở đầu một cành non, vừa dứt một đợt sinh trưởng, lá bắt đầu chuyển mầu thì ghép dễ sống vì cành ghép không quá non hoặc quá già, đường kính to hơn bút chì một chút, chiều dài khoảng 10-15 cm.
 
Gốc ghép khoảng 6-12 tháng tuổi, cắt ngọn gốc ghép, dùng dao sắc xẻ đôi ngọn thành một vết bổ dọc dài khoảng 4 cm, mắt ghép lấy từ một cành mập, có đường kính bằng đường kính gốc ghép dài khoảng 10-12 cm, sau khi cắt bỏ lá, vót thành nêm dài 4 cm, chêm vào gốc ghép, sau đó dùng dây nilon bó chặt. Cách buộc từ trên ngọn xuống dưới gốc ghép, bó kín phần cành ghép để trách mất nước làm chết mắt ghép.                                   PHẦN 2. KỸ THUẬTTRỒNG MỘT SỐ CÂY CHỦ YẾU TRONG VƯỜN
I. KỸ THUẬT TRỒNG CAM QUÝT
Đất phù sa ven sông, đất bồi tụ, đất rừng mới khai phá, đất thung lũng, đất phù sa cổ có bề dày từ 80-100 cm, có hàm lượng mùn cao, cao ráo, thoát nước, mực nước ngầm dưới 1 m đều có thể trồng cam quýt. Nếu mực nước ngầm cao, ít thoát nước thì phải có hệ thống thoát nước tốt, lên liếp để trồng.
1. Thời vụ trồng
Ở các tỉnh phía Bắc, vụ Xuân: tháng 2-3 hay vụ Thu: tháng 9-10 đều trồng được cam quýt nhưng tốt nhất là trồng vào vụ xuân có độ ẩm không khí cao và có mưa xuân nên tỷ lệ cây sống cao.
2. Mật độ, khoảng cách và kỹ thuật trồng.
Cam Canh, Mật, Vinh: 3 x 3 m, 3,5 x 3 m hoặc 3 x 4 m tương đương 800-1000 cây/ha. Các giống bưởi: 4,0 x 4,0 m; 5,0 x 4,0 m; 5,0 x 5,0 m tương đương 400-625 cây/ha
Với mật độ này, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì thời gian đầu khi mới trồng cây chưa khép tán, ta nên trồng xen các loại cây trồng khác như một số loại rau, đậu…
Kích thước hố đào 40 x 40 x 40 cm, hoặc 60 x 60 x 60 cm, ở vùng núi cao cần đào sâu hơn 70 x 70 x 70 cm. Lớp đất trên mặt được trộn đều với các loại phân lót.
Khi lấp hố cần cuốc xả thành hố xuống trước sau mới cho hỗn hợp đất phân xuống sau. Lúc trồng cần đào lại ở giữa một hố nhỏ sâu và rộng hơn bầu một chút, lấp đất cao hơn mặt bầu 3-5 cm. Nén chặt đất và tưới nước. Ở vùng đất thấp, mực nước ngầm cao thì có thể chỉ đào hố sâu 20-30 cm, sau đó cho phân lót rồi đặt cây giống lên, vun thành ụ cao so với mặt đất 20-40 cm.
Cần dùng cọc tre để cố định cây tránh gió bão và các tác động khác từ ngoài như người, súc vật...Tưới nhẹ, phủ quanh gốc bằng rơm rạ, cỏ khô, lá xanh dày 5-10 cm để giữ ẩm và chống cỏ dại. Cần giữ ẩm tốt cho cây trong tháng đầu tiên để cây nhanh bén rễ.
3. Kỹ thuật chăm sóc.
3.1. Xới xáo và làm cỏ xung quanh
Được làm thường xuyên hàng tháng, cỏ xung quanh gốc có thể dọn trong quá trình xới xáo. Việc xới làm cho đất tơi xốp, sạch cỏ và khu vực xung quanh gốc cây không bị đọng nước.
3.2. Bón phân cho cam quýt
a. Phân bón lót:
Mỗi hốc cây bón 30-40 kg phân chuồng hoai mục, 0,2-0,5 kg phân lân, 0,2 kg kali và 0,2 kg vôi bột, số phân này trộn đều với phần đất mặt
b. Bón thúc:
Cây từ 1-4 tuổi: Một năm bón một lần phân chuồng cùng với phân lân với lượng như sau: 30 kg phân chuồng trộn với 0,1-0,2 kg phân lân cho một cây, bón vào cuối mùa sinh trưởng (từ tháng 11). Phân vô cơ bón làm 3 lần với lượng bón như sau: 200 g urê, 100 g kali bón vào các tháng 1-2; tháng 4-5; tháng 8-9.
- Lần 1: 30% lượng phân đạm
- Lần 2: 40 % lượng đạm + 100% kali
- Lần 3: 30 % lượng đạm còn lại.
Cây từ 5-8 tuổi cách bón như sau:
- Phân chuồng hoai mục:30-40 kg
- Đạm U rê: 1-2 kg
- Phân lân: 3,5 kg
- Phân kali 1-1,2 kg
Phân chuồng và phân lân bón một lần vào sau vụ thu hoạch
Đạm và kali có thể chia làm 3 lần bón:
- Lần 1: tháng 1-2 bón 40% lượng phân
- Lần 2: tháng 5-6 bón 30% lượng phân
- Lần 3: tháng 8-9 bón 30% lượng phân còn lại
c. Cách bón.
Các loại phân rải đều, bón cách gốc 30-50 cm, phủ lên trên bằng lớp đất mỏng, hoặc rơm rác, sau đó tưới nước. Tránh phủ gốc quả dày, sát gốc cây vì dễ gây bệnh thối gốc.
3.3. Bón phân qua lá.
Có thể dùng phương pháp bón phân qua lá để bổ sung các chất cho cây đặc biệt là các nguyên tố vi lượng và một số chất kích thích sinh trưởng thông qua các loại chế phẩm phân bón lá và các chế phẩm kích phát tố. Các chất này bổ sung kịp thời sự thiếu hụt các chất trên cây nên có tác dụng rõ rệt. Các loại phân bón lá thường bổ sung các vi lượng như magiê (Mg), kẽm (Zn), bo (B), đồng (Cu)...
3.4. Một số biện pháp làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả của cam, quýt.
- Khoanh cành: Có tác dụng làm hãm vận chuyển nhựa trong cây và kích thích ra hoa, khoanh ở những cành cấp 1, 2. Khoanh tròn một vòng, độ rộng lát khoanh khoảng 1-2 mm. Khoanh xong dùng nilon quấn kín để tránh bị thối vết khoanh.
- Khoanh cành để hạn chế sự rụng quả: trong quá trình phát triển của quả, cây cam sẽ có các đợt phát lộc, khi phát lộc thì cây sẽ tự rụng quả để dành dinh dưỡng cho phát triển lộc non, vì vậy cần phải khoanh cành vào giai đoạn cây phát lộc để hạn chế rụng quả.
- Đảo cây: áp dụng đối với cây quất cảnh, cam canh, cam vinh…Vào tháng 12, 1 (đối với cam) và tháng 6 (đối với quất) hàng năm, người ta đào xung quanh gốc hoặc đào thành vầng to, đặt sang bên cạnh để một ngày sau đó trồng lại. Chú ý khi đảo tránh trời mưa vì nếu gặp mưa đảo sẽ không có tác dụng.
- Phun chất điều hòa sinh trưởng: Chất điều hòa sinh trưởng có khả năng kích thích ra hoa, tăng khả năng đậu quả và chống rụng hoa.
II. KỸ THUẬT TRỒNG BƯỞI
1. Chuẩn bị đất trồng
Đất cao đào hố ngang mặt đất và đắp vồng để dễ tưới trong mùa nắng, mùa mưa phá vồng để cây khỏi bị úng nước và bị chảy khi úng.
Kích thước liếp rộng 5-8m, chiều dài tuỳ theo kích thước vườn nhưng không nên dài quá 30m. Quanh vườn nên đào mương rộng từ 1,5 - 2m, sâu 1-1,2m và đắp bờ cao; mương nội đồng rộng từ 0,5-1m, sâu 0,8-1m. Khi đào mương nên chú ý không nên đem lớp đất phèn (nếu có) lên mặt liếp, nếu đất chua cần bón vôi để nâng pH = 5,5 - 6.
Nên chú ý đặt cống để điều tiết nước, hàng năm cần sửa sang liếp bằng cách bồi một lớp mỏng bùn và mở rộng mép liếp khi có thể.
2. Kích thước hố trồng
Hố trồng bưởi đào theo hình vuông, kích thước 0,6x0,6m. Khoảng cách trồng 5x5m. Trong 3, 4 năm đầu, có thể trồng xen những loại cây ngắn ngày.
3. Trồng cây
Nên trồng vào đầu mùa mưa, khi xuống giống nên tỉa bớt lá. Cây giống khi trồng nên đặt thẳng đối với cây tháp hoặc cây chiết có nhánh phân bố đều. Đặt nghiêng đối với cây chiết ít nhánh, giúp các đọt bên mọc lên để tạo tán.
4. Bón phân
Cây mới trồng, bón lót 10kg phân chuồng, 0,5kg phân lân, 0,2kg vôi. Lượng phân bón tuỳ thuộc vào tình trạng sinh trưởng của cây:
- Cây 1 - 3 năm tuổi, bón 1 - 3kg NPK (16 - 16- 8), 0,5 - 1kg super lân.
- Cây 4 - 6 năm tuổi, bón 4 - 7kg NPK (16 - 16 -8), 0,5 - 1kg super lân.
- Cây 7 - 9 năm tuổi, bón 8 -15kg NPK (16 - 16 -8), 0,5 - 1kg super lân.
Cách bón phân như sau:
- Cây từ 1-3 tuổi nên pha vào nước, tưới định kỳ 1 - 2 lần/tháng.
- Cây từ năm thứ 3 trở đi, bón 4 lần/năm, bón theo tán cây với lượng phân bón cho mỗi gốc: lần 1, sau khi thu hoạch, bón 10kg phân chuồng kèm 1/3 lượng phân NPK. Lần 2, trước khi ra hoa 1 tháng, bón 1/3 lượng phân NPK. Lần 3, sau khi đậu trái 1 tháng, bón 1/3 lượng phân NPK. Lần 4, trước khi thu hoạch 1 - 2 tháng, bón 1 -2kg Kali.
5. Chăm sóc
Làm sạch cỏ, thăm vườn thường xuyên, tỉa bỏ các cành vượt, cành sâu bệnh. Tưới dặm nếu nắng gắt, thoát nước khi bị úng. Tỉa bớt hoa quả vào năm chúng ra quá nhiều, làm cho bưởi kiệt sức. Thu hoạch tập trung và tăng cường phân bón vào những năm được mùa.
6. Phòng trừ sâu bệnh
- Bệnh thối gốc, chảy mủ: Gây chảy mủ trên gốc, thân, cành phần lớn do nấm Phytopthora spp. Đừng để úng nước, phun Aliette 2,5%, Ridomil 2%.
- Bệnh loét: Triệu chứng gây hại là có vết lõm sâu, lan nhanh do sâu vẽ bùa. Phòng trừ bằng cách vệ sinh vườn, trừ sâu vẽ bùa, khi hoa đậu trái phun thành phần vôi 1%, làm 3 lần, cách nhau 10 - 15 ngày.
- Sâu vẽ bùa (Phyllocnietis citrilla): Sâu non đục vào lá gây nên những đường ngoằn ngoèo, thường đi chung với bệnh loét gây nên. Phòng trừ bằng cách phun thuốc sớm ngay từ giai đoạn lá còn non.
- Bọ xít xanh hại quả (Rhynchocoris humeralis): Bọ xít chích hút nước quả, làm quả chai sần và rụng. Nên phòng trừ, cấy các ổ kiến vàng vào thân cây, sử dụng Trebon và Applau - Mip.
- Sâu đục thân cành: Sâu đục rỗng thân cành gây chảy mủ, cành chết. Sâu đùn mạt cưa ra ngoài miệng hang. Phòng trừ bằng cách cắt bỏ các cành bị hại nặng trước lúc sâu lột xác thành con trưởng thành, chích thuốc trừ sâu vào lỗ đục (có thể rải ít basudin), dùng móc sắt bắt sâu.
III. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC VẢI.
1. Thời vụ trồng
Ở các tỉnh phía Bắc, vụ Xuân hay vụ Thu đều trồng được vải nhưng tốt nhất là trồng vào vụ Xuân có độ ẩm không khí cao và có mưa Xuân nên tỷ lệ cây sống cao.
2. Khoảng cách và mật độ trồng
Khoảng cách trồng thường là 8 x 8 m tương ứng với 156 cây/ha, 8 x 9 m tương ứng 138 cây/ha
Với mật độ này, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì ta nên trồng xen các loại cây trồng khác như một số loại rau đậu…
3. Kỹ thuật trồng.
Vải có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau: đất bãi ven sông, đất đồng bằng, phù sa (đất thấp phải lên liếp vì vải là câu lâu năm), đất đồi dốc...
a. Đào hố:
Nên đào hố to có kích thước 1,0 x1,0 x1,0 m hoặc 0,8 x 0,8 x 0,8 m, đào hố nên để nửa đất mặt một bên, nửa đất đáy một bên. Đào hố trước 20-30 ngày rồi hãy trồng.
b. Phân bón lót:
Bón 30-50 kg phân chuồng hoai mục, 1 kg phân lân vi sinh, 0,2 kg kali và 0,2 kg vôi bột, số phân này trộn đều với phần đất mặt
c. Trồng cây:
Khi lấp hố cần cuốc xả thành hố xuống trước sau mới cho hỗn hợp đất phân xuống sau, vun thành ụ cao so với mặt đất 15-20 cm (với đất đồng bằng), và thấp hơn 15-20 cm so với mặt đất.
Để tỷ lệ cây trồng sống cao, khi trồng nên khoét 1 hố bằng cái xô, đổ vào đó 1 xô nước. Dùng dao sắc rạch bỏ bầu nilon và đặt cây bầu vào, nén nhẹ. Cần dùng cọc tre để cố định cây tránh gió bão và các tác động khác từ ngoài như người, súc vật...Tưới nhẹ, phủ quanh gốc bằng rơm rạ. Cần giữ ẩm tốt cho cây trong tháng đầu tiên để cây nhanh bén rễ. Chú ý không nên trồng cây quá sâu so với mặt đất vì rễ vải rất háo khí.
4. Kỹ thuật chăm sóc.
a. Xới xáo và làm cỏ xung quanh
Được làm thường xuyên hàng tháng, cỏ xung quanh gốc có thể dọn trong quá trình xới xáo. Việc xới làm cho đất tơi xốp, sạch cỏ và khu vực xung quanh gốc cây không bị đọng nước.
b. Bón thúc cho vải
Sau trồng một tháng cây vải đã bén rễ hồi xanh là có thể bón phân cho cây, song do cây còn bé nên bón ít và chia làm 5-6 lần trong 1-2 năm đầu.
Bảng 1. Lượng phân bón hàng năm cho cây vải
Tuổi cây Đường kính tán
(m)
Đạm U rê
(g/cây)
Super lân
(g/cây)
Kali
(g/cây)
Phân Vi sinh
(g/cây)
4-5 1,0-1,5 400 800 500 2 000
6-7 2,0-2,5 660 1 000 700 3 000
8-9 3,0-3,5 880 1 300 950 4 000
10-11 4,0-4,5 1 100 1 700 1 400 5 000
12-13 5,0-6,0 1 320 2 200 1 700 6 500
> 13 >6,0 1 800 3 000 2 000 8 500

 

Bảng 2. Thời gian bón và số lần bón trong một năm (%)

Thới kỳ bón Mục đích bón Lượng phân bón so với cả năm
Đạm Lân Kali
Sau khi thu hoạch (cuối tháng 6- đầu tháng 7) Hồi phục sau thu hoạch 50 34 25
Trước và sau tiêt tiểu hàn đến trước và sau đại hàn Thúc phân hóa mầm hóa 25 33 25
Ra hoa đến rụng quả sinh lý đợt 2 (1 tháng sau rụng hoa) Thúc quả 25 33 50
Tổng cộng cả năm (%)   100 100 100
Năm thứ nhất dùng nước phân ủ kỹ, pha loãng nồng độ 1 nước phân: 2 nước lã để tưới, nếu dùng phân Urê thì lượng bón là 25 g/cây/năm. Có thể dùng kết hợp phân Urê với nước phân đã pha loãng trên nhưng lượng phân Urê cần phải giảm đi 1 nửa. Năm thứ 2 lượng bón tăng dần, nước phân pha loãng 1 nửa, Urê bón 50 gam/cây/năm, bón thêm Super lân, và Kali 0,2-0,3 kg/cây/năm. Năm thứ 3 lượng phân bón tăng gấp đôi.
Từ năm thứ 4 trở đi, cây vải bắt đầu cho quả, có thể căn cứ vào tuổi cây, tình trạng sinh trưởng và phát triển của cây thể hiện qua số đo của đường kính tán lá để bón. Nếu có phân chuồng nên bón vào tháng 6, 7, sau khi thu hoạch, lượng bón khoảng 50-60 kg/cây
c. Phương pháp bón phân:
Phân chuồng đào hố kích thước 30-40 cm, sâu 40-50 cm đào 4 hố cách đều nhau xung quanh tán. Năm sau đào hố xen vào giữa các hố của năm trước.
Đối với phân vô cơ, ở vùng đất đồi, khô hạn thì có thể hòa phân vào nước để tưới theo hình chiếu tán cây. Có thể đào hố nhỏ theo hình chiếu tán vải, kích thước 20 x 20 x 20 cm, các hố cách nhau 50 cm, cho phân vào rồi lấp kín
d. Cắt tỉa cành, tạo tán cho cây.
Khi cây chưa cho thu hoạch, cần cắt bỏ những cành vọt, cành mọc chéo, che bóng cành bên cạnh. Khi cây thu hoạch quả, không bẻ chùm quả tùy tiện mà dùng kéo cắt cành để cắt với tối kèm theo 2 lá.
Khi thu hoạch xong phải rà soát lại hình thù tán, cắt đi cành khô, cành mọc nghiêng chéo làm loạn tán cũng như cành bị sâu bệnh.
e. Một số biện pháp làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả của nhãn.
- Khoanh cành: Có tác dụng làm hãm vận chuyển nhựa trong cây và kích thích ra hoa, khoanh ở những cành cấp 1, 2. Khoanh theo hình xoáy trôn ốc, độ rộng lát khoanh khoảng 1-2mm. Khoanh xong dùng nilon quấn kín để tránh bị thối vết khoanh.
- Phun chất điều hòa sinh trưởng: Chất điều hòa sinh trưởng có khả năng kích thích ra hoa, tăng khả năng đậu quả và chống rụng hoa.
- Phun KCLO­3 nồng độ 90 g/cây 2 lần trong một tháng trong các tháng 12, 1, 2 làm tăng số cây ra hoa, tỷ lệ cành ra hoa.   
 IV. KỸ THUẬT TRỒNG TÁO
1. Thời vụ.
Táo ghép vào tháng 8, 9 thì trong tháng 11 cây đã đạt tiêu chuẩn xuất trồng. Có thể trồng ngay ngoài ruộng vì tháng 11 nhiệt độ còn cao, thỉnh thoảng lại có mưa ẩm đất nên cây trồng chóng bén rễ, sang xuân gặp thời tiết thuận lợi cây sinh trưởng tốt nhanh chóng tạo tán đẹp. Cuối tháng 12 vào đầu tháng 1, vẫn có thể trồng được nhưng phải tránh các đợt rét nặng. Nếu đã hết tháng 11 mà cây giống vẫn còn bé, tuổi non thì nên trồng vào mùa xuân (đầu tháng 2) cây dễ sống, đỡ công chăm sóc.
2. Chuẩn bị hố trồng
Đối với vùng đất đồi, cần chọn triền đất thấp dưới chân đồi hoặc khu vực bằng phẳng giữ nước tốt, đào hố sâu 60-70 cm, rộng 80-100 cm, thành hàng theo đường đồng mức với khoảng cách hàng là 5-6 m, khoảng cách cây là 4-5 m hoặc khoảng cách hàng là 6-7 m, khoảng cách cây là 3-4 m.
Đối với vùng đồng bằng, khả năng sinh trưởng của táo rất mạnh, vì táo là cây cần nhiều nước và chất dinh dưỡng, nên khi trồng theo ô vuông cách nhau 5-6 m, kích thước hố sâu 50-60 cm, rộng 80-100 cm.
Mỗi hố bón khoảng 50 kg phân chuồng đã ủ kỹ + 0,5 kg lân trộn với đất bột để nâng đáy hố lên cách mặt đất 20-30 cm.
3. Cách trồng
Trước khi đăt cây vào hố cần bóc vỏ bầu bằng nilon, nên đặt gốc đứng thẳng hoặc hơi nghiên để cành ghép hướng lên phía trên, mặt bầu đất ngang bằng mặt đất đối với đất trũng hoặc thấp hơn 5-10 cm đối với đất cao nhằm điều chỉnh độ ẩm đất hợp lý. Sau khi đặt cây phải lấy đất bột lấp kín cổ rễ (không cho rễ cây tiếp xúc trực tiếp với phân bón vì khi rễ mới nhú ra gặp phân sẽ bị xót rễ gây chết cây). Không nên lấp đất quá cao chỗ gốc ghép, gây khó khăn cho việc cắt bỏ mầm của gốc ghép. Sau đó tưới liên tục đảm bảo độ ẩm đất 70-75%.
4. Cắt mầm gốc.
Song song với sự sinh trưởng của cành ghép, mầm gốc cũng nảy lên thành cành sinh trưởng rất nhanh, lấn áp cành ghép nên cần cắt bỏ kịp thời.
5. Bón phân.
a. Bón lót.
Mùa xuân hàng năm sau khi đốn tỉa táo cần bón lót bằng phân hữu cơ (phân chuồng, phân bắc, phân rác…) ở phía ngoài mép tán cây. Đào 3-4 hố sâu 40-50 cm, rộng 50 cm, đổ phân xuống rồi lấp đất. Chú ý không nên đào rãnh xung quanh tán vì rễ táo ăn nông sẽ làm đứt các rễ tơ.
b. Bón thúc.
Bón thúc định kỳ bằng phân vô cơ hỗn hợp đạm, lân, kali theo tỷ lệ 2:1:1. Mỗi tháng bón một lần với liều lượng 0,2 kg phân hỗn hợp với cây nhỏ và 0,5 kg phân với cây lớn. Bón theo viền mép ngoài tán, cuốc 10-20 hố nhỏ sâu 20 cm, rộng 20 cm cho phân rồi lấp đất, cũng có thể dùng nước phân pha loãng 1:3 để tưới.
6. Tưới nước.
Táo là cây ưa ẩm, nên trong suốt quá trình sinh trưởng, nếu gặp hạn cần phải tưới nước để đảm bảo đủ độ ẩm đất 70-75 %, đặc biệt là trong thời gian ra hoa kết quả, thời tiết khô hanh dần, việc tưới nước lại càng phải coi trọng làm cho quả chóng to, đẫy, ít rụng. Phương pháp chính là tưới theo cách dẫn nước ngấm theo rãnh luống vào gốc cây. Nếu không phải dùng ô doa tưới xung quanh gốc, tránh tưới phun mưa để tránh hiện tượng rụng hoa quả.
7. Đốn táo.
Táo là loại cây phân cành mạnh và sinh trưởng rất nhanh, thường trên cây táo có hai loại cành chính:
- Cành ngoài tán: phát sinh từ những mầm sinh trưởng từ nách lá của cánh năm trước. Cành này gọi là cành cấp 1, vừa dài, vừa phân cành theo luật 1:3 tức là cứ 3 mầm sinh dưỡng ở nách lá thì có 1 mầm phát triển thành cành (gọi là cành cấp 2), còn 2 mầm kia ở trạng thái ngủ. Trên cành cấp 2 sinh trưởng thành cành cấp 3 nhưng không hoàn toàn theo qui luật này.
- Cành vượt trong tán: phát sinh từ những mầm bất định trên cành từ những năm trước. Tùy theo thời gian và điều kiện thời tiết mà nảy sinh sớm hoặc trong điều kiện thời tiết thuận lợi (nhiệt độ cao, đủ ánh sáng và nước) thường to khỏe tạo thành khung tán cây thay thế dần những cành già của năm trước.
Kỹ thuật đốn.
Tùy theo mục đích trồng táo mà người ta có 2 cách đốn khác nhau:
Đốn đau: Nhằm tạo tán, đối với cây nhỏ sau khi trồng 1-2 năm, cắt cụt hết các loại cành, chỉ để lại đoạn gốc của khoảng 3 cành to mới ra năm trước làm cho cây sớm nảy sinh cành vượi để nâng tán cao dần. Đối với cây đã nhiều năm, tán quá rộng hình dù, cây và cành chen lấn nhau thì cũng thu hẹp toàn bộ tán cây theo yêu cầu kỹ thuật, cắt hết số cành quá già trong tán không có khả năng nảy mầm, chỉ để các cành vượt 1-2 năm tuổi.
Đốn phớt: Đây là kỹ thuật đốn thường xuyên hằng năm nhằm đạt sản lượng cao và ổn định
 V. THÂM CANH CÂY XOÀI Ở MIỀN BẮC
Hiện nay chúng ta đã nhập nội giống xoài từ Trung Quốc và Australia để chọn lọc được một số giống xoài, trong đó có giống GL1 và GL6 có khả năng sinh trưởng và phát triển ở các tỉnh phía Bắc cho năng suất cao, thâm canh tốt.
1. Quy hoạch vùng trồng
Hai giống GL1 và GL6 trước mắt chỉ nên trồng trong vườn nhà. Vùng trồng là các tỉnh đồng bằng sông Hồng, khu vực thấp một số tỉnh miền Trung, miền núi, nơi có nhiệt độ không quá thấp, không có sương muối, không bị ảnh hưởng của mưa phùn mùa xuân.
2. Kỹ thuật thâm canh
a. Mật độ trồng
Do có khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật nên mật độ trồng tăng lên: với giống GL1 800-850 cây/ha (khoảng 3x4m); giống GL6 từ 1.100-1.300 cây/ha (khoảng cách 3x3m hoặc 3x2,5m).
b. Nhân giống
Nhân giống bằng phương pháp ghép cành. Nên dùng 2 giống xoài địa phương là xoài LHP và XB làm gốc ghép cho hai giống GL1 và GL6.
c. Cách trồng
Trồng mới đào hố vuông từ 80-100cm. Bón lót 50kg phân chuồng + 1,5 kg Super lân + 0,2 kg urê+ 0,2kg KCl. Trong 3 năm đầu bón trung bình 3,5kg Supe lân + 0,8g urê + 0,5kg KCl/cây/năm. Năm sau bón tăng hơn năm trước từ 1,2-1,5 lần. Sau 3 năm cây cho quả. Sau khi thu hoạch tiến hành:
- Cắt cành: cắt để lại lộc đầu tiên của năm trước, từ đợt thứ 2 đến đợt lộc cuối (mang quả bỏ đi); cắt bỏ toàn bộ cành trong tán.
- Phun Boocdo 1% định kỳ 1-1,5 tháng/lần, dừng phun khi cây ra hoa. Xử lý Culta vào đất, phun KNO3 lên lá với lượng và nồng độ tương ứng Culta 30g/cây 5 tuổi; KNO3 1-2%. Xử lý Culta từ tháng 9-11, sau xử lý sớm nhất khoảng 70-90 ngày cây ra hoa, phun KNO3 lên lá khi đợt lộc cuối năm đã chuyển già. Sau phun 70-90 ngày cây ra hoa. Nên xử lý muộn để hoa nở vào trung tuần và cuối tháng 3, thu hoạch vào cuối tháng 7, đầu tháng 8
- Tiến hành bao quả vào đầu tháng 5 với túi chuyên dụng có kích thước 20x30cm.
d. Thu hoạch
Từ khi đậu quả đến thu hoạch từ 120-130 ngày. Thu quả vào ngày nắng, để vào nơi râm, không để xuống đất và phơi ngoài nắng. Rửa sạch vỏ để ráo nước rồi cho vào rấm với lượng 2g đất đèn (CaC2) cho 1kg quả, rấm trong 48 giờ, sau đó xếp ra ngoài để quả chín tự nhiên.
3. Một số biện pháp thâm canh mới cho cây xoài phía Bắc
a. Kỹ thuật cắt tỉa, tạo tán:
Áp dụng kỹ thuật cắt tỉa, nhằm điều chỉnh sự cân bằng của bộ tán, vừa chủ động điều chỉnh sự đồng đều của quá trình ra lộc, nhằm giúp cho cây tập trung phân hóa mầm hoa và ra hoa tập trung đồng thời giúp tạo tán cây thấp dễ chăm sóc, thu hoạch. Việc cắt tỉa được tiến hành ngay sau khi thu hoạch quả (cuối tháng 8 đầu tháng 9). Tùy theo giống, thời vụ, điều kiện khí hậu của từng năm mà quyết định thời gian cắt tỉa cho thích hợp. Theo các tác giả của đề tài thì thời vụ cắt cành sớm có lợi cho khả năng hình thành và sinh trưởng của lộc. Việc cắt cành chậm nhất nên kết thúc trước 25/8. Cắt đồng loạt tất cả các cành có đường kính 2cm. Trên cây cắt cành, lộc bật ngay sau khi cắt một tuần, quá trình ra lộc diễn ra đồng đều và liên tục đến tháng 11 đã có 3 đợt lộc mới.
b. Xử lý ra hoa:
Kết hợp với biện pháp cắt tỉa là chế độ bón phân, tưới nước và xử lý bằng hóa chất nhằm giúp cho cây phân hóa mầm hoa và ra hoa đồng đều, theo yêu cầu thời vụ của ta. Hai hợp chất được các tác giả sử dụng để kích thích quá trình phân hóa mầm hoa là nitrát kali (KNO3) và Culta với liều lượng tương ứng là 30 và 25g/m đường kính tán pha trong nước sạch để phun lên tán hoặc tưới trong phần rễ của tán cây. Thời gian xử lý thích hợp từ khoảng tháng 9 đến tháng 11. Các kết quả cho thấy, ở các cây xử lý KNO3 hoa ra đồng loạt, tỷ lệ cành mang hoa và đậu quả cao hơn rất nhiều so với đối chứng. Các cây xử lý Culta hoa ra nhiều và tập trung, tuy nhiên theo các tác giả thì thời gian ra hoa và kết thúc nở hoa cũng như tỷ lệ cành mang hoa, quả ở các thời điểm xử lý phụ thuộc rất nhiều vào loại cành, tuổi cành khi ta cắt tỉa... Xử lý Culta có xu hướng làm tăng tổng số hoa trên chùm, xử lý sớm sẽ cho tổng số hoa cũng như số lượng hoa lưỡng tính trên chùm cao hơn. Một thí nghiệm được các tác giả tiến hành xử lý culta vào thời điểm 30/9 trên loại cành mọc sau khi cắt tỉa ngày 5/8 cho năng suất cao nhất, 30kg/cây.
c. Kỹ thuật bao quả:
Vào đầu tháng 4 đến trung tuần tháng 5 khi thấy quả đã đậu, ổn định và sau khi đã tỉa bỏ bớt những quả nhỏ, chỉ giữ lại số lượng quả phù hợp trên chùm thì tiến hành bao trái bằng túi giấy chuyên dụng. Mục đích của việc bao trái là ngăn chặn sự gây hại của nấm bệnh (đặc biệt là bệnh thán thư hại quả), côn trùng và các tác động bất lợi của thời tiết để có quả xoài đẹp về mã quả, chất lượng tốt. Trước khi bao quả nên tiến hành phun thuốc BVTV một lần. Trước khi thu hoạch khoảng một tuần nên tháo bỏ bao giấy cho mã quả đẹp hơn, hấp dẫn người tiêu dùng hơn. Theo tính toán của các tác giả đề tài thì với biện pháp bao quả chúng ta đã tiết kiệm được ít nhất 3-4 lần phun thuốc BVTV, giảm chi phí giá thành mà lại nâng cao được năng suất và chất lượng quả.
 VI. TRỒNG KHẾ NGỌT
Đất trồng khế ngọt nên chọn loại đất tốt, giàu mùn có nguồn nước tưới. Nếu ở vùng đồi thì chọn đất trồng ở chân đồi.
1. Thời vụ trồng:
Ở miền Bắc, vụ xuân là tốt nhất (tháng 2-3) và có thể là vụ thu (tháng 8-10).
2. Kích thước hố:
Đất tốt đào hố kích thước là 0,6x0,6x0,6 m. Nếu đất xấu 1,0x1,0x0,8 m. Khoảng cách cây 5x6 m hoặc 5x5 m. Khế ưa bóng râm nên có thể trồng xen trong vườn xoài, mít, nhãn...
3. Chăm sóc:
- Chọn đất ẩm, nhiều màu và nhiều bóng râm: Chú ý cắt tỉa sao cho có khung tán rộng, cành phân bố đều trong tán không cho nắng rọi vào thân chính. Khi cây lớn, cành quá dày thì nên tỉa bớt cho tán cây thông thoáng: Bỏ bớt cành già, cành mọc chen chúc, cành sâu bệnh, cành yếu... Thời gian cắt tỉa thích hợp là vào sau vụ thu hoạch quả, trước lúc ra hoa.
- Mỗi năm sau đợt thu quả (cuối năm) bón cho mỗi gốc 20-30kg phân chuồng. Khi còn nhỏ bón cho mỗi cây 400-500g phân NPK (tỷ lệ là 10:12:7 hay 16:16:8). Cây bắt đầu cho quả có thể bón tăng thêm liều lượng 500-800g/cây (15:15:15). Chú ý tăng cường phân kali.
- Với cây lớn cho nhiều quả bón 3-4 kg phân NPK hỗn hợp/cây, chia ra 3-4 lần trong năm. Cách nhau 3-4 tháng bón một lần.
4. Phòng trừ sâu bệnh:
Chưa có loại bệnh nấm, virus nào nguy hiểm đối với khế. Các loại sâu đáng chú ý là ruồi đục quả, sâu non thuộc bộ cánh phấn, đục vào quả và có thể ăn cả hoa và quả non.
5. Thu hoạch:
Sau khi ra hoa khoảng 100 ngày thì khế chín, tuỳ theo màu sắc quả biết được mức độ chín để thu hoạch cho phù hợp với nhu cầu thị trường. Khế là loại không chín thêm sau khi thu hoạch, do vậy không nên hái xanh. Quả khế dễ giập chỉ nên thu hoạch bằng tay, nếu trên cao thì thu hoạch bằng sào có gắn rọ ở đầu để hái.

VII. KỸ THUẬT TRỒNG CÂY THANH LONG
Thanh Long sinh trưởng và phát triển tốt ở những nơi có cường độ ánh sáng cao và toàn phần, thiếu ánh sáng thân cây ốm yếu, lâu cho quả.
Cây Thanh Long được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất xám bạc màu, đất phèn… nhưng muốn Thanh Long cho năng suất cao, đất phải có tầng canh tác tối thiểu từ 30-50cm.
1. KỸ THUẬT CANH TÁC:
1.1 Chuẩn bị đất.
+ Vùng đất cao: Đào hố trồng kích thước 50x50x50cm, trồng trụ lấp đất còn khoảng 20-30cm rồi bón lót phân chuồng 15-20kg/trụ rồi phủ lớp đất mặt lên trên.
+ Vùng đất thấp: Phải xẻ mương, độ cao líp phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm từ 20-30cm.Sau đó đào hố trồng trụ và bón lót.
1.2. Chuẩn bị trụ.
Thanh Long cần bám vào cây trụ, do đó phải chuẩn bị trụ trước khi đặt hom giống. Có thể dung trụ gỗ hoặc trụ xi măng cốt sắt. Tuy nhiên trồng bằng trụ xi măng cần chú ý vào mùa nắng trụ hấp thụ nhiệt mạnh dễ làm đứt các rễ khí sinh của Thanh Long, nên dung rơm rạ, lá chuối hoặc bao tải bao một lớp mỏng xung quanh trụ xi măng để giảm bớt hấp thụ nhiệt của trụ và nên tưới lên trụ vào sang sớm và chiều tối.
Trồng trụ trước khi đặt hom 1 tháng, chiều cao trụ khoảng từ 1,7-2,2m, phần chon sâu từ 0,5-0,7m, đường kính trụ 15-20 cm (trụ xi măng mỗi cạnh khoảng 12-15 cm). Phải trồng trụ thật thẳng, trên đầu trụ đóng them giá đỡ hình chữ thập hoặc đóng nẹp 2 bên mép trụ giúp Thanh Long có chỗ bám trên đầu trụ, cành Thanh Long sẽ rũ xuống.
1.3. Chuẩn bị hom giống.
Nên chọn hom giống có tiêu chuẩn như sau:
-Tuổi hom từ 6-24 tháng, chọn các cành có gốc cành bắt đầu hóa gỗ nhằm hạn chế bệnh thối cành khi đặt hom xuống đất.
- Chiều dài hom từ 50-70cm
- Hom khỏe, màu xanh đậm, không có vết sâu bệnh.
- Các mắt mang chum gai phải tốt, mẫy, khả năng nẩy chồi tốt.
- Sau khi chọn hom xong, hom được giâm nơi thoáng mát trên nền đất khoảng 10-15 ngày sẽ ra rễ rồi đem trồng. Có thể đem hom trồng thẳng không qua giai đoạn giâm.
Cách đặt hom:
- Đặt hom cạn khoảng 3-5 cm, nên đặt phần đã hóa gỗ xuống đất để tránh thối gốc.
- Mỗi trụ đặt 3-4 hom.
- Đặt áp phần thẳng của hom vào trụ tạo điều kiện thuận lợi cho hom ra rễ và bám sát vào cây trụ.
- Cột hom vào trụ để tránh gió làm lung lay hom khi rễ chưa bám vào đất.
- Vào mùa nắng nên tủ gốc bằng rơm rạ hoặc cỏ khô để giữ ẩm cho cây.
1.4. Mật độ trồng.
Mật độ trồng khoảng 700-1000 trụ/ha, khoảng cách trồng 3m x3m hoặc 3mx3,5 m. Có thể bố trí trồng xen các loại cây ngắn ngày khác nhưng phải đảm bảo cho Thanh Long nhận đầy đủ ánh sang cây mới cho quả to, năng suất cao.
1.5. Thời vụ trồng.
Trồng vào tháng 10-11 DL vì lúc này nguồn hom giống dồi dào do trùng với thời gian tỉa cành, lợi dụng ẩm độ cuối mùa mưa, tránh được ngập úng, tuy nhiên đến mùa khô cây chưa đủ sức chống chịu nắng hạn cần phải tưới nước và giữ ẩm cho cây.
1.6. Tỉa cành.
Sau khi trồng 7-10 ngày cây đã ổn định, cây bắt đầu đâm chồi, chọn 1 chồi phát triển tốt nhất, bám chặt vào trụ để lại, số chồi còn lại tỉa bỏ sao cho cành từ mặt đất đi thẳng tới đỉnh trụ.
Khi cành dài 30-40cm tiến hành uốn cành nằm xuống đỉnh trụ. Nên uốn vào lúc trưa nắng, lúc này cành mếm dễ uốn, mỗi ngày một ít cho đến khi cành nằm được trên đỉnh trụ, dung dây nilon cật lại. Biện pháp này giúp cành mau ra chồi mới.
Khi cành đâm chồi chỉ chon 1-2 chồi phát triển tốt để lại, các chồi khác tỉa bỏ.
Khi cây cho quả: sau khi hết mùa thu hoạch quả, tỉa bỏ cành cũ bên trong tán, cắt ngang cành và cách gốc 30-40cm nhằm làm giá đỡ cho cây. Cành vừa cho quả vụ trước nên để lại nuôi chồi mới (chỉ để lại 1 chồi trên cành mẹ) khi cành dài 1,2-1,5m thì cắt đọt cành con tạo điều kiện cho cành mập và nhanh cho quả
1.7. Bón phân (bón cho 1 trụ).
+ Thời kỳ: 1-2 năm đầu
-Bón lót: 15-20 kg phân chuồng hoai, 100 gr Super lân cho một trụ.
-Bón thúc: 100 gr Urê + 100 gr NPK 16-16-8 vào các giai đoạn 20-30 ngày sau khi trồng, sau đó 3 tháng bón 1 lần. Khi cây ra hoa có thể cung cấp them 50 g KCL.
+ Thời kỳ: Từ năm thứ 3 trở đi.
-Liều lượng bón: 0,5 N + 0,5 P2­­O­­­5 + 0,5 K2O.
-Cụ thể: 1,08 kg Urê; 3,2 kg lân và 0,8 kg KCL
Nên dung loại phân lân Văn điển hoặc lân Ninh Bình
* Cách bón: Chia làm 8 lần trong năm. Rải phân đều trên bề mặt đất xung quanh trụ thanh long, xới nhẹ cho phân lọt xuống đất hoặc phủ lên bằng một lớp đất mỏng sau đó tủ rơm hay cỏ khô, sau khi rải phân phải tưới nước cho phân tan.
Lần 1: Bón sau khi thu hoạch.
100% phân lân + Phân chuồng hoai mục + 200 gr Urê
Lần 2: Cuối tháng 12 dương lịch (DL): 200gr Urê + 150 gr KCl
Lần 3: Cuối tháng 2 DL: 180 gr Urê + 150 gr KCl
Lần 4: Cuối tháng 4 DL: 100gr Urê + 100 gr KCl.
Từ lần thứ 5 đến lần thứ 8: cứ mỗi tháng bón 1 lần, liều lượng như lần thứ 4.
Ngoài ra có thể phun bổ sung thêm các loại phân vi lượng bằng cách phun thêm phân bón lá vào 10 ngày sau khi đậu quả và lúc phát triển nhanh.
1.8. Tưới nước, tủ gốc, làm cỏ.
Thanh Long là cây chịu hạn nhưng nếu thiếu nước cây sẽ tăng trưởng châm, khả năng ra hoa, đậu quả kém, năng suất thấp. Do đó phải đảm bảo tưới nước đầy đủ và tủ gốc vào mùa nắng.
Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng và là nơi trú ẩn của sâu bệnh, vì vậy phải làm cỏ thường xuyên bằng tay hoặc sử dụng thuốc diệt cỏ.
1.9. Xử lý ra hoa quả vụ bằng ánh sáng đèn
+ Thời điểm xử lý: Từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 2 DL
+ Tuổi cây: Nên áp dụng ở những vườn cây từ 4-5 tuổi trở lên.
+ Nguồn điện, bóng đèn: Sử dụng điện lưới hoặc bằng máy nổ, công suất điện cần phải ổn định và bóng đèn được dùng phổ biến hiện nay là bóng đèn tròn 75 watt hoặc 100 watt
+ Khoảng cách từ bong đèn đến tán cây từ 0,5-1m.
+ Thời gian chiếu sang/đêm: từ 4-8 giờ.
+ Thời gian chiếu sáng/đợt: đầu vụ và cuối vụ khoảng 10-12 đêm. Giữa vụ (vụ tết) khoảng 15 đêm.
+ Tùy tình hình sinh trưởng sau mỗi đợt thu hoạch có thể bón thêm phân NPK cho cây.
a) Bón phân cho Thanh Long rãi vụ như sau:
+ Trước thắp đèn 20-30 ngày xịt phân bón lá 30-10-10 (Tức là có tỷ lệ N=30%; P2O5= 10% và K2O= 10%).
+ Trước thắp đèn ngày xịt phân bón lá 15-55-10 (01 lần). Sau 5 ngày thì xịt loại 6-30-30 (2 lần).
+ Sau thụ phấn 3 ngày xịt loại 20-20-20 (15 ngày/1 lần)
+ Trước thu hoạch 15-20 ngày xịt 12-0-40-3 Ca (7 ngày/lần; 2 lần/vụ)
b) Sử dụng phân bón lá (HUMAMIX) trên cây Thanh Long rãi vụ:
1. Trước khi thắp đèn 1 ngày, xịt Humamix (6-30-30) (30ml/bình loại 8 lít và xịt 2 lần, lần sau cách lần đầu 7 ngày)
2. Sau thụ phấn 3 ngày, xịt Humamix (30-10-10) (30ml/bình loại 8 lít và xịt 2 lần, lần sau cách lần đầu 5 ngày).
3. Trước khi thu hoạch 3 tuần, xịt Humamix (12-0-30-4 Ca) (30ml/bình loại 8 lít và xịt 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 ngày.
Chú ý xịt ướt đều trên tán cây vào lúc 9-10 giờ sáng.
1.10. Hạn chế rụng hoa, quả thanh long
Đây là hiện tượng xảy ra bởi những nguyên nhân sau:
- Khi quả đang kỳ tăng trưởng thể tích ở giai đoạn trời khô hạn, nếu gặp mưa nhiều hoặc tưới nước nhiều đã làm cho ruột quả phát triển quá mức gây nên nứt vỏ quả.
a. Hạn chế hiện tượng rụng hoa, rụng quả non:
Hiện tượng rụng hoa, quả non thường xảy ra trong quá trình hình thành và phát triển quả. Cây tự cân bằng sinh lý để nuôi số hoa, số quả còn lại trên cây. Hoặc khi cây thiếu phân bón, bị úng hoặc hạn thì hoa, quả rụng nhiều hơn.
F Cách khắc phục:
- Mỗi cành thanh long khi ra nhiều hoa nên lặt bỏ bớt, chỉ chừa lại 3-5 hoa/cành. Sau khi hết đợt hoa 3-6 ngày phải lặt bỏ bớt quả non, chỉ chừa lại 2-3 quả (khoảng cách giữa 2 quả tối thiểu là 3 mắt gai) trên mỗi cành.
- Bón đủ phân và tưới nước đầy đủ cho cây trong giai đoạn nắng hạn.
- Chống úng vườn thanh long trong mùa mưa.
- Dùng phân bón lá Growmore 6-30-30 phun trên cành giai đoạn ra hoa để hạn chế hiện tượng thối hoa.
- Dùng 2ml thuốc kích thích sinh trưởng Dekamon 22.43L + 10ml phân bón lá đa vi lượng King pha trong bình 8 lít, hoặc dùng chế phẩm bón lá Ferviha 5-5-5, phun vào các giai đoạn cành đang ra nụ hoa và giai đoạn nuôi quả non.
b. Nứt vỏ quả:
- Phun thuốc kích thích to quả (Thiên nông, GA3...) quá liều.
- Ngoài ra, treo quả lâu cũng thường bị nứt vỏ quả
F Khắc phục:
- Không để vườn bị khô hạn trong thời gian cây nuôi quả.
- Thanh long vụ mùa, khi quả đủ độ chín nên thu hoạch ngay không để quả chín lâu trên cành.
- Không được lạm dụng thuốc kích thích to quả, khi dùng cần phun đúng liều lượng.

2. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH:
+ Kiến: cắn, đục khoét hom, cành non, tai lá, gây tổn thương vỏ quả làm mất giá trị thương phẩm. Dùng Basudin 10H rải quanh gốc cây, dung Basudin 50ND Supracide… phun xịt trên cành tại các vùng bị gây hại.
+ Rầy mềm: Có nhiều loại gây hại trên hoa và quả Thanh Long, chúng chích hút nhựa để lại vết chích nhỏ trên quả làm quả khi chin bị mất màu đỏ tự nhiên, mất giá trị xuất khẩu. Phun Lannate, Cyrux… nồng độ theo khuyến cáo trên nhãn thuốc.
+ Ruồi đục quả: Gồm nhiều loài nhưng phổ biến gây hại trên hoa và quả. Đây là đối tượng nguy hiểm cần chú ý phòng trừ. Dùng thuốc bẫy ruồi như Vizubon, đặt 3-5 bẫy/1000 trụ, đặt rải rác trong vườn thanh long.
+ Bệnh thối đầu cành: Do nấm Alternaria sp làm ngọn chuyển màu vàng sau đó bị thối. Dùng Rovral 2 lần liên tiếp cách nhau 1 tuần.
+ Bệnh đốm nâu than cành: do nấm Gloeosporium agaves đốm tròn như mắt cua nếu tập trung kéo dài thành vệt trên cành.
+ Bệnh nám cánh: Do nấm Macssonina agaves. Trên than cành có một lớp màng mỏng màu xám tro, nhám.
Phòng trừ:
- Vệ sinh đồng ruộng
- Chống úng, chống hạn cho cây
- Phun Rovral hoặc Anvil 5SC phối hợp với chất dính.
Ngoài ra còn một số bệnh sinh lý như rụng nụ do số nụ trên cành quá nhiều hoặc phân bón không đầy đủ, mất cân đối, hiên tượng nứt vỏ do thời tiết khô hạn sau đó mưa nhiều làm ruột quả phát triển mạnh hoặc teo quả lâu ngày. Phải kiểm soát không để bị khô hạn.
3. THU HOẠCH:
Từ những ngày thay đổi sinh lý hóa trong quá trình chín, Thanh Long nên thu hoạch trong thời gian 28-31 ngày sau khi nở hoa để quả có chất lượng ngon nhất và bảo quản lâu hơn. Thu hoạch lúc sang sớm, chiều mát, tránh ánh nắng gay gắt chiếu trực tiếp vào quả làm tăng nhiệt độ trong quả và mất nước nhanh ảnh hưởng đến chất lượng, thời gian bảo quản. Dụng cụ hái bằng kéo cắt tỉa cây sắc bén, khi cắt tỉa cây sắc bén, khi cắt quả xong bỏ vào giỏ. Sau khi hái để quả trong bong râm mát, vận chuyển nhanh về nhà càng sớm càng tốt. Không để quả xuống đất trong khi hái tránh nhiễm nấm bệnh gây hỏng cuống khi bảo quản. Khi vận chuyển từ vườn về các điểm thu mua tập trung không nên chất quá đầy giỏ, cần bao lót đáy, che phủ mặt giỏ kỹ bằng giấy, lá tránh ánh nắng chiếu và tổn thương do va đập.
4. KỸ THUẬT BẢO QUẢN THANH LONG
Thanh Long là quả cây đặc sản, có giá trị xuất khẩu cao vì sự hấp dẫn về dạng hình, màu sắc, dinh dưỡng và hương vị. Để tăng thời gian bảo quản và bảo đảm chất lượng quả, cần chu ý một số đặc điểm sinh lý hóa trong quá trình chin của quả
Kích thước, trọng lượng và độ cứng quả: Thanh Long ra hoa đồng loạt theo từng lứa, sau khi thụ phấn sẽ hình thành quả. Trong vòng 10 ngày đầu, quả phát triển chậm sau đó tăng rất nhanh về kích thước và trọng lượng. Trong 2 giai đoạn 16-18 và 28-34 ngày sau khi nở, có sự gia tăng trọng lượng và đường kính của quả rất nhanh. Đặc biệt trong giai đoạn sau, nên nông dân có tập quán giữ quả trên cây để quả có trọng lượng cao hơn. Nếu trong giai đoạn này tưới nước nhiều quá hoặc trời mưa lớn sẽ gây hiện tượng nứt quả.
Trong khi chin độ quả của quả giảm hẳn. Độ cứng của quả giảm rất nhanh từ ngày thứ 16 đến ngày thứ 25 sau khi hoa nở và sau đó độ cứng tiếp tục giảm nhưng chậm hơn.
Cường độ hô hấp: Theo sự phân nhóm quả theo cường độ hô hấp, thì thanh long là loại quả có cường độ hô hấp thấp khi chin (70-100 mg CO2/kg/giờ). Cường độ hô hấp của quả cao khi quả còn xanh và giảm dần khi chin. Với đặc điểm về cường độ hô hấp trên thì trong điều kiện thích hợp về nhiệt độ, ẩm độ và phòng trừ nấm bệnh sau thu hoạch tốt, thanh long có thể bảo quản trong 40 ngày. Ngoài ra thanh long thuộc nhóm quả không có đỉnh hô hấp khi chín vì vậy phải thu hoạch đúng lúc quả chín chất lượng quả tốt hơn, khác với chuối, xoài có thể hái quả khi còn xanh và sau đó dú chín.
Độ chua và Độ Brix của thịt quả: Độ chua của quả giảm rất nhanh từ ngày thứ 22 đến ngày thứ 28 sau khi nở hoa và tiếp tục giảm nhưng không đáng kể (từ 1,5% xuống 0,04%).
Độ Brix để chỉ độ ngọt của quả. Độ Brix tăng từ ngày thứ 25 (12%) sau khi hoa nở và cao nhất ở ngày thứ 28 và ngày thứ 43 (14%). Để tiêu thụ thị trường trong nước, nông dân thích để quả trên cây lâu hơn vì người tiêu dung thích quả có vị ngọt hơn.
Sự thay đổi màu sắc của vỏ: Trong giai đoạn 16-22 ngày sau khi nở hoa, sự chuyển màu xảy ra chậm nhưng bắt đầu ngày thứ 22 màu đỏ bắt đầu xuất hiện, đỏ hoàn toàn vào ngày thứ 25 và sau đó đỏ sậm vào ngày thứ 31.
VIII. TRỒNG ỔI LAI
Ổi lai là giống cây ăn quả có giá trị, cùi dày, ít hạt, mềm, ngọt, thơm..., thích hợp cho việc chế biến. Cây dễ trồng, không kén đất, chịu úng, hạn và kháng bệnh cao. Sau một năm trồng cây đã cho quả.
1. Thời vụ trồng
Trồng ổi lai vào vụ xuân (tháng 2-3) và vụ thu (tháng 8-10) ở các tỉnh phía Bắc. Còn các tỉnh phía Nam nên trồng vào đầu mùa mưa. Cũng có thể trồng ổi lai quanh năm nhưng phải bảo đảm tưới và che chắn cho cây tới khi bén rễ, đâm cành.
2. Chuẩn bị đất
Ổi lai không kén đất, nhưng nên chọn đất có tầng canh tác dày, đất tơi, xốp, giữ nước và thoát nước dễ dàng. Nên đào hố rộng, sâu, bón lót trước khi trồng vài tuần. Mật độ trồng 4x4 m hoặc 5x5m.
3. Cách trồng
Cây giống có thể chiết hoặc ghép mắt, vì trồng từ hạt sẽ lâu cho quả. Nếu ở vùng dễ ngập nước nên vun gốc cao hơn mặt đất 10-15cm, nếu ở vùng đồi, khô hạn, nên để hố lõm xuống 10-15 cm. Sau khi trồng xong tưới ngay cho cây.
4. Chăm sóc
Với cây giống là cây ghép nên vun gốc cao hơn mắt ghép và loại bỏ các mầm mọc từ gốc ghép. Khi cành mọc ra từ gốc ghép ban đầu (cấp 2) được 40-50 cm tiến hành bấm ngọn để cây bật cành cấp 3. Giữ độ 8-10 cành cấp 3.
5. Bón phân
Năm đầu tiên không cần bón nhiều phân, chỉ cần khoảng 200g NPK/cây. Các năm sau bón tăng dần. Nên lấy bùn ao đắp thêm vào các gốc để tăng nguồn dinh dưỡng cho cây.
6. Phòng trừ sâu bệnh
Ổi lai thường bị các loại sâu bệnh như rệp, các loại sâu ăn lá, ruồi đục quả, bệnh đốm quả... gây hại.
- Đối với rệp, các loại sâu ăn lá, ruồi đục quả dùng Sherpa 0,2-0,3%, Tribon 0,2% phun lên cây.
- Đối với bệnh đốm trên quả, dùng Ridomil 0,2% hoặc Anvil 0,2% phun vào tháng 5-6 làm 2-3 đợt, mỗi đợt cách nhau 7-10 ngày.
7. Thu hoạch
Ổi lai ra hoa làm 2 đợt: đợt 1 vào tháng 4-5, chín vào tháng 7-8; đợt 2 ra hoa vào cuối năm và cho quả chín vào dịp Tết.
Khi quả bắt đầu chín có mầu vàng sáng, nên tiến hành thu hoạch ngay. Thu hái quả vào buổi chiều.
IX. TRỒNG HỒNG
Cây hồng ăn quả là cây ưa khí hậu á nhiệt đới, có khả năng chịu hạn khá cao, có tính thích ứng rộng, có thể trồng được trên nhiều loại đất với điều kiện là tầng đất dày, thoát nước, độ pH = 5-5,5. Loại cây này rất ưa ánh sáng, ở vùng đồi núi người ta chọn hướng dốc có nhiều ánh sáng. Những vùng đủ ánh sáng cây phân cành thấp hơn, tán lá rộng, quả phân bố đều trên tán lá.
1. Thời vụ trồng:
Tốt nhất là trồng vào tháng 1-2 (trước và sau Tết Nguyên Đán), lúc này cây hồng có bộ lá đã già, vàng, đang rụng hoặc đã rụng hết lá, trong cây chứa nhiều chất dự trữ nhất nên dễ sống, khi gặp nhiệt độ cao dễ dàng mọc mầm mới.
2. Mật độ và khoảng cách trồng :
Ở vùng đất đồi trồng với mật độ 400-500 cây/ha với cự ly trồng là 5x5 m, 5x4 m ở vùng dốc thấp, đồng bằng trồng với mật độ là 277-330 cây/ha với cự ly trồng là 6x6 m, 6x5 m.
Đào hố, bón phân lót: bộ rễ hồng yêu cầu đất thoáng nên đất trồng phải được chuẩn bị trước. Với đất bằng phẳng đào hố 80x80x70cm hoặc 70x70x60cm, bón lót 15-20kg phân chuồng + 0,5kg lân, với đất đồi đào hố 100x100x90cm hoặc 90x90x80 cm, bón lót 20-30 kg phân chuồng + 0,7kg phân lân.
Cách trồng: hố trồng đã được bón lót và lấp hố trước khi trồng 15-20 ngày, cho cây vào hố, bóc vỏ bầu nilon cho đất nhỏ vào lèn chặt đến ngang miệng bầu, lấp đất cao hơn mặt bằng 5-10cm, xung quanh tạo gờ giữ nước, cắm 3 cọc xung quanh, dùng dây buộc chặt lại chống gió lay, dùng rơm rạ khô, cỏ khô ủ gốc cây. Thời kỳ đầu nên trồng xen các loại như lạc, đậu tương cách xa gốc 0,5-0,8cm, cần làm sạch cỏ trong tán và phủ gốc.
Tạo hình, tỉa cành, tỉa tán: tạo hình cây con tiến hành 2-3 năm đầu chỉ để một thân chính cao 0,8-1m, để 4-5 cành, cấp I, trên cành cấp I để 4-5 cành cấp II, tạo cho các cành phân đều ra các phía. Cắt tỉa các cành nhỏ yếu, cành mọc đứng, cành sâu bệnh. Những cành chọn để lại nên bấm ngọn để cho mọc thêm các cành ngang, để cây nhanh chóng hình thành tán cây to và thấp.
3. Bón phân :
Hàng năm bón lót cho hồng vào tháng 1, trước khi cây nảy lộc, đối với những cây đã ra quả ổn định cần bón cho mỗi cây là 30-50 kg phân chuồng hoai + 0,3-0,5 kg đạm urê + 0,3 kg lân + 0,5kg kali. Cách bón là chiếu theo mép tán cây, đào ba hố đều nhau với kích thước hố sâu và rộng khoảng 50cm, sau khi bón phân lấp đất hơi cao hơn trước. Trong thời gian cây nuôi quả (tháng 3-7) cần tưới thêm phân kali và đạm pha loãng 100 lần, mỗi tháng tưới 1-2 lần. Tuỳ theo tình hình sinh trưởng của cây mà phối hợp phân đạm với kali với tỷ lệ hợp lý. Cây sinh trưởng càng mạnh càng cần tăng lượng kali lên vì kali quyết định hạn chế rụng quả.
4. Phòng trừ sâu bệnh :
Cần chú ý một số loài sâu bệnh sau: rệp, sáp, sâu đo, sâu đục thân. Cần phòng trừ bằng các loại thuốc Bi 58 0,1%, Deis 0,1%, Endrin pha loãng 1/400. Bệnh đốm đa giác, bệnh đốm tròn, phun phòng trừ bằng thuốc Boócđô 1% hoặc Dithan.
5. Khử chát và giấm hồng
Quả hồng dù đã chín trên cây, vừa hái xuống cũng không ăn được ngay, trừ một vài giống hồng ngọt, có thể khử chát trên cây. Mới đây, các cán bộ nghiên cứu đã nghiên cứu thành công và cho phổ biến qui trình "Khử chát và giấm hồng bằng A xít 2-Chloroetyl phosphoric và đất đèn". NNVN giới thiệu để bà con nông dân tham khảo, áp dụng.
F Qui trình bao gồm các bước sau:
Thu hái: ở miền Bắc, tùy theo địa phương, giống hồng mà hồng thường chín từ cuối tháng 8, chín rộ vào tháng 10, 11, chậm nhất vào tháng 12, 1. Trên cùng một cây có quả chín trước, quả chín sau do đó khi thu hoạch phải biết phân biệt để hái, quả chín trước hái trước, quả chín sau thì hái sau. Nên hái vào buổi sáng khi đã khô sương, không thu hái vào những ngày mưa dễ bị lây nhiễm nấm bệnh. Dùng kéo cắt sát cuống quả những quả đã chín vàng đều cho vào sọt có lót rơm rạ hoặc túi vải để tránh dập xước.
Chọn lựa và đánh bóng: Lựa chọn những quả đồng đều về màu sắc, kích cỡ, cùng giống, cùng đợt thu hái, những quả không có vết sâu bệnh, xây xước, bầm dập để xử lý và giấm. Dùng giẻ, khăn sạch lau nhẹ hết các vết bẩn trên toàn bộ mặt vỏ quả, làm cho vỏ quả láng bóng lên tăng thêm mỹ quan và hấp dẫn.
Xử lý: Với phương pháp xử lý bằng Chloroetyl phosphoric: Đổ 5 lít nước sạch vào một chiếc chậu nhựa rộng miệng rồi dùng bơm tiêm hút 60cc Axít 2- Chloroetyl phosphoric pha vào và khuấy đều cho tan hết. Tùy theo số lượng hồng cần xử lý mà pha lượng dung dịch cho phù hợp, tránh lãng phí: Cứ 1 lít nước sạch cần pha 12-13cc Axít 2-Chloroetyl phosphoric. Theo kinh nghiệm cứ 5 lít dung dịch có thể xử lý được hàng trăm kilôgam hồng quả. Sau khi chuẩn bị được dung dịch xử lý, ta cho hồng đã được lau sạch, đánh bóng vào ngâm ngập trong vòng 7 phút rồi vớt ra xếp vào rổ để cho ráo nước. Xếp hồng lên các giàn thoáng, để nơi thoáng mát trong vòng 6-8 ngày hồng sẽ chín đều, hết chát.
- Với phương pháp xử lý bằng đất đèn (Axetylen ): Dụng cụ bao gồm: Thùng để xử lý hồng bằng nhựa, gỗ hay sành sứ to, có thể chứa được vài trăm quả hồng; hộp nhựa hoặc sắt tây đường kính 10cm để đựng đất đèn; ống nhựa mềm để dẫn nước dài khoảng 70-80cm; phên nan tre, giá gỗ để xếp hồng trong thùng; bơm kim tiêm để cấp nước; tấm nilon để bịt miệng thùng...
Cách làm: Dưới đáy thùng chứa đặt chính giữa hộp nhựa hoặc hộp sắt tây mở đáy trên có chứa đất đèn. Căn cứ theo lượng hồng cần xử lý để đặt lượng đất đèn cho phù hợp: Cứ 100 kg hồng quả cần 300g đất đèn. Trên mặt hộp sắt tây đặt giá gỗ nan thưa để xếp hồng theo từng lớp nhẹ nhàng cho tới gần miệng thùng. Đặt ống nhựa mềm từ ngoài miệng thùng vào trong hộp sắt tây đựng đất đèn. Dùng nilon và dây cao su buộc kín miệng thùng hồng đã được xếp đầy nhằm tránh khí Axetylen thoát ra ngoài. Chú ý để ống nhựa mềm xuyên qua lớp nilon ra ngoài. Dùng bơm tiêm hút nước sạch để cấp nước cho hộp đất đèn qua ống dẫn nhựa mềm. Ngày đầu tiên ta bơm 30 ml, sau đó ngày thứ 2, thứ 3 cấp tiếp mỗi ngày 30 ml nữa. Ngày thứ 4, dỡ túi nilon một lúc cho thoát hết khí Axetylen rồi xếp hồng lên giàn nơi thoáng mát. Chú ý xếp các cuống quả xuống dưới theo lớp xen kẽ để không gây vết thương cho quả. Để hồng chín trong khoảng 6-8 ngày là có thể đem tiêu thụ được. 
X. KỸ THUẬT TRỒNG HỒNG XIÊM
1. Chuẩn bị đất trồng.
Vùng gò đồi đào hố sâu 60 cm, rộng 60 cm, có điều kiện đào sâu 80 cm rộng mỗi bề 1m càng tốt. Nếu được cày sới toàn bộ diện tích định trồng hồng xiêm rồi mới đào hố để cho đất tơi xốp và thoáng thì càng tốt, ở đất thấp cần lên liếp, liếp rộng khoảng 6-8 m, trồng thành hàng đơn trên mô cao khoảng 40 cm, đào lỗ nhỏ đường kính 40 cm ở giữa mặt mô để đặt cây con.
. Mật độ, khoảng cách trồng hồng xiêm.
Tùy giống và điều kiện đất đai để bố trí khoảng cách thích hợp. Giống hồng xiêm Thanh Hà phải trồng thưa hơn hồng xiêm Xuân Đỉnh vì tán dày, cây cao và tán rộng.
Nơi đất xấu nên trồng dày hơn đất tốt, khoảng cách giữa các hàng 7-10 m, còn giữa các cây trên hàng 6-8 m
Khi trồng phải bỏ túi nilon và nên căt bớt lá để giảm bốc hơi nước. Hố trồng cần chuẩn bị trước 1 tháng. Dùng phân chuồng để bón lót 30-50 kg phân hoai mục trộn với 0,5 kg lân, 0,2-0,5 kg kali trộn đều với đất mặt. Đặt cây con chính giữa hố, phủ đất và nén đất xung quanh gốc chặt, lấp đất sao cho mặt bầu của cây ngang bằng với mặt đất, sau đó tưới nước giữ ẩm cho cây
3. Thời vụ.
Thời vụ tốt nhất cho miền Bắc là vụ xuân tháng 2-3. Nên trồng xen các cây họ đậu, các loại rau để tận dụng đất và tăng thu nhập, có tác dụng che phủ đất và chống cỏ dại.
4. Chăm sóc hồng xiêm sau khi trồng.
a. Tưới và tiêu nước.
Khi cây còn nhỏ cần chú ý tưới đủ nước cho cây nhất là trong vùng có mùa khô hạn kéo dài. Nếu gần nguồn nước thì tưới cho cây, nếu khó khăn thì tìm cách che phủ gốc cây. Mùa mưa thì chú ý thoát nước vì nếu ngập nước sẽ làm giảm năng suất và phẩm chất quả.
b. Bón phân.
Hồng xiêm ra quả quanh năm với tỷ lệ đậu quả cao, vì thế hồng xiêm có nhu cầu dinh dưỡng cao nên cần nhiều phân để bón. Bộ rễ hồng xiêm thường ăn nông vì trồng bằng cành chiết nên khi bón phân sao cho để cây sử dụng nguồn phân được tốt không ảnh hưởng đến bộ rễ
Bón lót.
Dùng phân chuồng để bón lót 30-50 kg phân hoai mục trộn với 0,5 kg lân, 0,2-0,5 kg kali trộn đều với đất mặt
Bón thúc.

Bảng 3. Lượng phân bón cho hồng xiêm

Tuổi cây
(năm)
Phân vô cơ Phân hữu cơ
Kg/cây/lần(*) Số lần/năm Kg/cây/lần Số lần/năm
1 0,15 6 4 2
2 0,30 6 10 2
3 0,75 4 10 2
4 1,5 4 10 2
5 2,5 4 10 2
6 3,0 4 10 2
>6 3,5 4 10 2
(*) Năm đầu dùng phân theo tỷ lệ N:P:K là 15:15:15
từ năm thứ 3 dùng N:P:K:Mg là 12:12:17:2

Khi cây còn nhỏ chủ yếu tưới nước phân chuồng ngâm ủ pha loãng, nồng độ pha từ 1:10 đến 1:3-5 tùy theo độ lớn của cây. Bón vào trước các đợt ra lộc khoảng 15 ngày đến 1 tháng, cũng có thể bón phân urê nồng độ 1,0%.
- Khi cây lớn đang nuôi quả cần nhiều dinh dưỡng nhất là ở độ tuổi từ 10-15 năm là thời kỳ cây đang có năng suất cao. Bón 1,5 kg urê; 0,8 kg super lân; 0,4 kg kali.
- Thời vụ bón: bón trước các đợt lộc chính trong năm1-2 tháng, váo các tháng 4-5 và 9-10. Ngoài ra còn bón dặm cho cây vào sau lúc thu hoạch quả nhằm hồi phục cho cây và chuẩn bị cho các đợt lộc mới (hoa hồng xiêm nở sau khi đợt lộc mới ổn định, nở ở nách lá từ dưới lên trên). Cách tốt nhất là bón nông, dùng cuốc lật nhẹ lớp đất mặt sâu 5-10 cm xung quanh hình chiếu của tán cây, rắc đều phân sau đó phủ một lớp đất mỏng. Chú ý không bón vào lúc trời mưa, phân dễ bị rửa trôi, ít có hiệu quả.
- Bón bùn ao. Theo kinh nghiệm của nhân dân, sau khi tát ao, lấy bùn lên phơi nỏ, cho xung quanh gốc trong phạm vi tán cây vừa có tác dụng dinh dưỡng, vừa cạp thêm đất cho bền gốc, tăng thêm khả năng chống đổ.
- Cắt tỉa. Cây hồng xiêm có tán dày, cành lá phân bố đều nên không cần cắt tỉa nhiều. Nếu muốn tán thấp thì những năm đầu tiên nên tỉa bớt ngọn, cắt bỏ những cành mọc thấp, cành bị sâu bệnh và cụm cành mọc chen chúc trong tán để cho cây thoáng và đỡ tiêu hao dinh dưỡng vô ích. Khi hồng xiêm đã già, cho năng xuất thấp, quả nhỏ cần cưa bỏ cành già, cây sẽ mọc cành mới bổ sung đều cho tán sau 1-2 năm cây sẽ hồi phục và cho quả to trở lại. Việc cắt cành già nên làm ngay sau khi thu hoạch quả.
5. Phòng trừ sâu bệnh
Hồng xiêm được xem là cây ăn quả ít sâu bệnh, nhưng để bảo đảm cho cây sinh trưởng tốt, ra hoa đậu quả được nhiều cần chú ý các loại sâu bệnh sau:
v Rệp hại hồng xiêm: Phòng trừ, nếu ít thì dùng tay bắt giết, nếu nhiều có thể sử dụng Supraci (0,2%), Sherpa (0,2%) để phun.
v Ruồi hại quả : Thu nhặt quả bị hại trộn với vôi đem chôn. Dùng bẫy bả, dùng 1-2 giọt Methyleugenol (mêtiongiênol) + vài giọt Dipterex 5%, đĩa đặt bả đặt trên giá treo cách mặt đất khoảng 1 m trong tán cây nơi râm mát. Vườn 1 ha đặt 1-2 bả, bảy ngày thay bả một lần.
v Ngài hại lá, hại hoa: Xuất hiện và gây hại quanh năm, nhưng hoạt động mạnh vào lúc hồng xiêm có cành non. Phòng trừ: dùng Sherpa (0,2%), Polytrin (0,2%), Sumicidin (0,2%) phun vào trước lúc hoa nở.
v Bệnh đốm trên thân và cành lớn: Phòng trừ bằng cách dùng các loại thuốc gốc đồng (hỗn hợp Boocđô, oxit clorua đồng, Copper-zinc để phun hoặc có thể dùng vôi quét lên thân cây và các cành lớn để phòng ngừa.

v Bệnh đốm lá cây gây hại trên lá và quả, phòng trừ bằng cách phun Copper-zinc 0,3% chế phẩm hay Mancozeb 0,25% chế phẩm.



 XI. KỸ THUẬT TRỒNG CHUỐI
Giới thiệu chung.
Chuối là một trong những cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam và trên thế giới, cho giá trị dinh dưỡng cao với mục đích sử dụng rộng rãi. Ở nước ta cây chuối được trồng từ lâu đời và có ý nghĩa kinh tế rất lớn.
Cây chuối có khả năng thích nghi rộng, suốt từ Bắc vào Nam vùng nào cũng có thể trồng được chuối. Những năm gần đây sản phẩm chuối đã xuất khẩu đi một số nước và mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân.
1. Chuẩn bị đất.
Yêu cầu đất phải tốt, tầng canh tác dày vì bộ rễ của chuối ăn rất khoẻ. Đất phải thoát nước, tưới tiêu tốt.
Đối với đất trồng chuối cũ, yêu cầu phải đào bỏ sạch gốc chuối cũ, dọn sạch cỏ dại, cày phơi ải một thời gian cho đất tơi xốp trở lại. Có thể xử lý đất khi cày bừa cùng với bón vôi: khoảng 10 kg vôi bột/sào.
Kích thước hố trồng: trồng thành 2 hàng.
Mật độ: 2000-2500 cây/ha, hàng x hàng = 2,5-3,0 m
Cây x cây 2,5 x 2.0 m.
Kích thước hố: 60 x 60 x 60 cm.
2. Phân bón.
Dùng phân chuồng oai mục để bón lót, lượng bón lót cho 1 hố trồng từ 15-20 kg phân chuồng, 0,2 kg super lân, 0,1 kg kali, urê 0,1 kg, vôi bột 0,1 kg (nếu đất chua). Trộn đều phân với lớp đất mặt rồi lấp hố lại sao cho mặt hố sâu hơn mặt đất 10-15 cm.
Bón thúc:
+ Đạm urê: 300 g/hốc,
+ Lân 400 g/hốc,
+ Kali: 250-300 g/hốc,
+ Phân hữu cơ bón 10-15 kg sau khi thu hoạch buồng mẹ.
Thời gian và cách bón có thể chia làm các đợt như sau:
+ Lần 1: Bón sau khi trồng 30-40 ngày khi cây phục hồi và bén rễ. Lượng bón 1/4 đạm, 1/4 lân, 1/4 kali.
+ Lần 2: Trước khi cây phân hoá mầm hoa (sau trồng 8 tháng), bón 1/2 lượng đạm, 1/2 kali.
3. Thời vụ.
Thời vụ tốt nhất là vụ Xuân: tháng 2, 3; vụ Hè Thu vào tháng 7, 8.
4. Giống
Hiện nay có 2 phương pháp nhân giống chính:
Dạng chồi: Chọn chồi mập khoẻ, không sâu bệnh, dạng đuôi chồn, cao 0,8-1 m, cắt sạch rễ. Nhược điểm của phương pháp này là cây chuối sinh trưởng không đều, dễ nhiễm bệnh.
Dạng nuôi cấy mô. Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô có đặc điểm là cây sạch bệnh, có sức sinh trưởng mạnh, cây ít bị nhiễm bệnh do không bị các vết thương cơ giới khi đánh cây con mà đây là một trong những nguyên nhân lây nhiễm bệnh. Cánh đồng chuối cho thu hoạch tập trung, năng suất cao hơn từ 10-20 % so với trồng bằng chồi, quả đồng đều, ít các vết bệnh.
Các giống đang trồng phổ biến hiện nay là các giống chuối Tây, chuối Tiêu, Tiêu Hồng, chuối Ngự, một số giống nhập nội như Tiêu Đài Loan…
5. Cách trồng.
Chuối phải đươc trồng lúc trời râm mát, buổi sáng hoặc chiều tối là tốt nhất. Với cây giống nuôi cấy mô trước khi trồng phải dỡ bỏ bầu nilon một cách cẩn thận không được làm vỡ bầu. Trồng vào giữa hố, dùng đất nhỏ lấp kín gốc. Sau khi trồng có thể dùng rác ủ để giữ ẩm cho cây mau bén rễ.
6. Chăm sóc và tưới.
Vườn chuối cần được thường xuyên chăm sóc để đảm bảo cho cây sinh trưởng tốt, sớm ra hoa và đạt năng suất cao.
Các công việc chăm sóc cho vườn chuối bao gồm các công việc sau:
- Tưới nước: Cây chuối cần rất nhiều nước ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng, nhất là cây giống nuôi cấy mô nên cần phải có chế độ tưới nước đặc biệt. Trồng xong cần tưới ngay và luôn luôn cung cấp đủ ẩm cho cây ở giai đoạn này. Một giai đoạn nữa cần đủ nước là giai đoạn phân hoá mầm hoa (sau trồng 8-10 tháng) đến khi quả lớn đẫy.
- Tỉa mầm, định chồi và vệ sinh vườn: Cây chuối đẻ khỏe nên cần phải tỉa bớt chồi chỉ để lại 1 chồi con để thay thế và khống chế mật độ vườn cây, điều tiết sự sinh trưởng của cây mẹ và cây con. Việc tỉa chồi phải làm thường xuyên bằng cách đào bỏ các chồi ở vị trí cao nhất. Đồng thời với tỉa chồi, định mầm cần tiến hành vệ sinh như cắt bỏ lá khô, lá bệnh, cắt bỏ hoa đực, bao buồng bằng túi PE đục lỗ hoặc giấy chịu ẩm, phòng trừ cỏ dại, khơi rãnh tiêu nước cho vườn.
- Bón phân cho chuối: (xem phần phân bón)
7. Thu hoạch và bảo quản.
Sau ra hoa từ 2,5-3 tháng là có thể thu hoạch. Thường độ chín của quả được xác định qua mầu sắc vỏ quả, độ đẫy của quả, góc cạnh quả… Lúc thu hoạch tránh làm cho quả bị trầy xước. Sau thu hoạch chuối được phân loại, đóng gói ngay tại nơi sản xuất.
XII. KỸ THUẬT TRỒNG CÂY GỪNG
Gừng được dùng tươi như một loại gia vị và chế biến thành nhiều sản phẩm như mứt, kẹo, rượu, thuốc,.. Ở nước ta, cây gừng (Zingiber officinale) được trồng phổ biến trong các hộ gia đình với quy mô nhỏ, sản lượng chưa nhiều và chủ yếu để tiêu thụ tại chỗ hoặc thị trường nội địa.
Vài năm trở lại đây, gừng đã trở thành cây có giá trị kinh tế khá cao. Nhiều lúc, giá gừng thương phẩm có thể lên đến 15.000 -20.000 đồng/kg. Thấy vậy, nông dân đổ xô nhau chuyển sang trồng gừng. Thế là các dịch hại trước đây ít được quan tâm (do diện tích trồng nhỏ lẻ) thì nay có dịp bộc phát, lây lan và gây hại nghiêm trọng (bệnh thối củ có thể làm thất thu đến 100% năng suất).
1. SƠ LƯỢC MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA CÂY GỪNG:
1.1. Hình thái:
Gừng được xếp vào nhóm cây thường niên, thân thảo. Thông thường, cây cao 0,6 -1 m, thân ngầm phình to chứa dưỡng chất gọi là củ, xung quanh có các rễ tơ; củ và rễ chỉ phát triển tập trung ở lớp đất mặt (sâu 0 -15 cm). Lá màu xanh đậm dài 15 -20 cm, rộng 2 cm, chỉ có bẹ mà không có cuống, mọc thẳng và so le, mặt nhẵn bóng, độ che phủ của tán lá thấp.
Cây gừng ít khi ra hoa, trục hoa mọc ra từ gốc, dài 15 -20 cm; hoa màu vàng xanh dài tới 5 cm, rộng 2 -3 cm, có 3 cánh hoa dài khoảng 2 cm, mép cánh hoa và nhị hoa có màu tím.
Số lượng chồi nằm ở củ gừng không nhiều và là nguồn để nhân giống chủ yếu hiện nay.
1.2. Thích nghi:
Cây gừng được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới (nhiệt độ trung bình 21 -27 oC, lượng mưa 1.500 -2.500 mm, độ cao đến 1.500 m), có mùa khô ngắn.
Đất thích hợp để trồng gừng phải là đất tốt vì cây có nhu cầu dinh dưỡng tương đối cao (đặc biệt là đạm, sau đó là kali và lân), có pH = 5,5 -6, tầng canh tác dày 20 -40 cm, không bị ngập úng và tơi xốp, nhiều mùn (dùng dao nhọn đâm xuống đất, nếu đâm sâu dễ dàng qua lớp đất mặt là đất tơi xốp; sau đó rút lên, nếu thấy đất có màu sẫm hoặc xám đen bám vào má dao là đất giàu hạt sét, giàu mùn và đủ ẩm).
Gừng là loài ưa sáng nhưng có khả năng chịu rợp nên thường được bố trí trồng xen. Tuy nhiên, dưới tán che 70 -80% thì cây chỉ cho năng suất bằng ½ so với nơi nắng trảng (trên cùng 1 loại đất).
2. KỸ THUẬT CANH TÁC:
Quy trình này được xây dựng phù hợp cho phương pháp trồng chuyên trên ruộng/rẫy có nắng trảng.
2.1. Thời vụ:
Ở miền Nam, vụ chính trồng gừng là vào đầu mùa mưa (tháng 4 -5 hàng năm); trong khi, ở miền Bắc là vào mùa Xuân (có mưa phùn và ẩm độ không khí khá cao).
2.2. Chuẩn bị giống:
Chọn giống: các giống được trồng nhiều hiện nay là gừng Trâu hay gừng Dé (giống địa phương), gừng Lai (Tiền Giang), gừng Tàu (nhập nội) và đặc biệt là giống gừng Nồi (trồng nhiều ở Long An) được đánh giá là có triển vọng (giống đã được Trung tâm ƯDTB KH&CN An Giang trồng khảo nghiệm tại xã Hội An -huyện Chợ Mới năm 2005; năng suất cao gấp đôi giống gừng Lai ở thời điểm sau 4 tháng trồng, ít nhiễm bệnh thối củ và cháy lá).
Chuẩn bị giống: gừng giống có thể lấy ngay sau khi thu hoạch hoặc sau khi được bảo quản trong một thời gian ngắn, với lượng cần chuẩn bị là 300 kg/1.000 m2 đất trảng nắng. Chọn củ gừng già (gừng cựu, phần thân chính của dánh gừng hoặc gừng từ đủ 9 tháng tuổi trở lên), bẻ hoặc cắt các đoạn củ (ánh) dài 2,5 -5 cm, trên mỗi ánh phải có ít nhất 1 mắt mầm (chồi ngủ). Giống cần được xử lí với các loại thuốc gốc đồng, Score, Phatox, Validacine,..để phòng và diệt nấm bệnh. Sau đó tiến hành trồng ngay để đảm bảo khả năng nảy mầm; hoặc có thể ủ giống cho lên chồi rồi mới trồng, cách này sẽ tiết kiệm công trồng dặm về sau.
2.3.Chuẩn bị đất:
Đất trồng nên được vệ sinh, dọn sạch tàn dư, cày sâu ít nhất là 20 cm và bừa cẩn thận cho tơi xốp; sau đó tiến hành bón lót phân, chế phẩm sinh học,.. rồi lên luống cao 10 -20 cm, mặt luống rộng 40 -50 cm (trồng 2 hàng/luống), sang phẳng mặt luống và đào rãnh thoát nước.
Đối với phương pháp trồng trong túi/bầu thì công đoạn chuẩn bị đất cũng được tiến hành tương tự, nhưng đất sẽ được cho vào túi/bầu với lượng thích hợp (thông thường, túi/bầu có đường kính 40 -50 cm).
2.4. Mật độ và kỹ thuật trồng:
Trên mỗi luống trồng thành 2 hàng so le nhau (kiểu nanh sấu), với hàng cách hàng 40 -50 cm và cây cách cây 30 -40 cm (đất xấu trồng dày, đất tốt trồng thưa). Đặt giống (đã chuẩn bị trước) sâu 5 -7 cm, mắt mầm/chồi hướng lên hoặc hướng ngang (có nhiều mắt mầm/chồi), lấy đất mịn phủ lên rồi ấn chặt tay để đất tiếp xúc tốt với củ, sau đó phủ đất mịn cho bằng mặt luống.
Đối với phương pháp trồng trong túi/bầu thì trồng với mật độ thưa hơn vì cây được chăm sóc dễ dàng hơn.
2.5. Chăm sóc:
Nếu trồng bằng ánh chưa nảy mầm thì sau 15 -20 ngày, củ sẽ bắt đầu đâm chồi và xuất hiện lá non.
2.5.1. Tưới nước:
Cần cung cấp đủ nước trong suốt quá trình sống cho cây theo nguyên tắc chung: gừng là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng nước.
Tuy nhiên, trong quá trình trị bệnh (đặc biệt là bệnh thối củ) ở một số thời điểm nhất định thì việc cắt giảm nước tưới để hạn chế sự lây lan của dịch hại là cần thiết.
2.5.2. Làm cỏ, vun gốc:
Tiến hành phun trừ hoặc làm cỏ dại bằng tay vào giai đoạn 25 -30 ngày sau khi trồng (NST), kết hợp với bón thúc đợt 1 và xới xáo, vun gốc cho cây. Trong các thngs sau, khi thấy cỏ dại mọc lấn át cây gừng thì phải làm sạch và tủ lại quanh gốc.
Mặt khác, cần bảo quản tốt diện tích canh tác, không để các con vật cắn phá, dẫm đạp lên cây. Không để củ lộ khỏi mặt đất để đảm bảo phẩm chất và giá trị thương phẩm của gừng.
2.6. Bón phân:
Tuỳ thuộc vào thổ nhưỡng, thực trạng của cây và mục đích sử dụng, lưọng phân cần cho 1 ha:
Bón lót 3 -5 tấn phân chuồng (nên kết hợp phân trùn và các loại phân khác) và các chế phẩm sinh học với lượng thích hợp;
Bón thúc 100 -120 kg Urea + 150 -170 kg Super lân + 200 -220 kg Kali vào các thời điểm 25 -30, 90 -100 và 150 -160 NST.
*Chú ý: ngoài các thời điểm bón phân nêu trên, nếu thấy lá gừng bị vàng do thiếu đạm thì có thể tiến hành bón qua lá bằng cách phun với lượng 10g Urea/bình 10 lít nước.
2.7. Phòng trừ sâu bệnh:
Một số sâu bệnh phổ biến thường gặp trên gừng
2.7.1. Sâu hại:
Sâu đục thân thường xuất hiện vào đầu mùa mưa. Sâu đục vào bên trong và ăn phần non, nếu bộc phát mạnh sẽ làm giảm đáng kể năng suất gừng.
Phòng trị: Sử dụng các loại thuốc trừ sâu có tính lưu dẫn như: Basudin, Regent, Furadan, Kinalux,…
*Chú ý: Khi thấy bướm sâu đục thân xuất hiện hoặc sâu ở tuổi 1 -2 thì tiến hành phun thuốc diệt ngay, nếu chậm trễ, khó phòng trị kịp thời.
2.7.2.Bệnh hại:
2.7.2.1.Bệnh cháy lá:
Bệnh do nấm Fusarium gây nên, thường vết bệnh xuất hiện trên chóp lá và cháy từ chóp vào hoặc có những vết cháy hình tròn hoặc bầu dục trên lá. Nếu bệnh phát triển mạnh, nấm tấn công vào nách lá, xuống củ làm chết cả cây.
Phòng trị: Sử dụng các loại thuốc Appencard, Bavistin, Carbenzim, Score,..
2.7.2.2.Bệnh thối củ:
· Thối xanh:
Bệnh do vi khuẩn lưu tồn trong đất, nước, củ và thân cây gừng bị bệnh gây và lây lan rất nhanh qua vết thương do cơ học hoặc côn trùng gây ra. Gừng đang xanh bỗng héo đột ngột vào giữa trưa, có tươi lại vào lúc chiều mát và chết rất nhanh; thân bị nhũn nước, tách rời củ và có màu sậm; khi nhổ lên, đỉnh sinh trưởng có nước màu đục và có mùi hôi đặc trưng.
Phòng trừ: do đặc điểm bệnh rất khó trị, lây lan nhanh nên và gây tổn thất lớn nên phòng bệnh là vấn đề cần thiết và bắt buộc. Cần tiến hành thực hiện các biện pháp sau:
Ngay sau thu hoạch vụ trước (đối với đất trồng chuyên) hoặc trước khi tiến hành xuống giống, cần vệ sinh đồng ruộng, tiêu hủy thân cây dư thừa (nguồn lưu tồn bệnh);
Tránh để cây bệnh gần hoặc vứt xuống nguồn nưới tưới để tránh lây lan, bố trí canh tác ở chân đất không bị ngập úng;
Bón lót phân hữu cơ, chế phẩm sinh học Tricô (trong thuốc vi sinh Tricô có chứa nấm Trichoderma, khi xử lý thuốc để phòng bệnh cho cây trồng thì nấm này cần thời gian để thích hợp với môi trường trong đất và nhân mật số lên nhiều hơn thì sau đó mới có tác dụng đối kháng với mầm bệnh trong đất);
Bón lót vôi với liều lượng 50 -100 kg/1.000 m2 để xử lí đất;
Xử lí giống bằng các loại thuốc gốc đồng, Score, Phatox với liều lượng thích hợp để diệt mầm bệnh;
Khi thấy gừng có triệu chứng xoắn lá thì tiến hành phun các loại thuốc Kasuran, Kasumin, Starner,..kết hợp với một số thuốc đặc trị các loại rầy mềm, rệp sáp tấn công như Diazan, Supracide,..
Luân canh cây trồng hợp lý để cắt nguồn bệnh lưu tồn.
· Thối vàng:
Bệnh do nấm Fusarium tấn công vào củ, xuất hiện trong điều kiện ẩm ướt kéo dài. Bệnh có triệu chứng vàng lá, sau đó rụng và chết tương đối chậm; trên củ có vết màu nâu, phần củ nhăn nheo và tốp lại có phủ lớp tơ màu trắng.
Phòng trị: Xử lí đất và giống trước khi trồng, sử dụng các loại thuốc Appencard, Carban, Carbenzim, Ridomyl, Score,..
2.8. Thu hoạch và bảo quản:
Tuỳ vào mục đích sử dụng, có thể thu hoạch gừng từ 4 tháng trồng trở đi. Gừng để làm giống thì phải thu hoạch sau 9 tháng.
Cẩn thận dùng cuốc để thu hoạch gừng để tránh làm xây xác củ (làm giảm giá trị thương phẩm và khó bảo quản); sau đó nhổ cả bụi, rũ sạch đất, chất thành khóm và tiến hành cắt lấy củ.
Gừng cần được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát (tương tự như bảo quản các loại cây thân củ và rễ củ khác). Các củ giống được đặt vào thùng, chậu hoặc trải đều trên sàn nhà, ở dưới và trên mỗi lớp củ được phủ bằng một lớp đất mịn, khô, dày 1 -2 cm. Trong qúa trình tồn trữ và bảo quản, có thể sử dụng một số hoá chất đặc hiệu để phòng ngừa côn trùng cắn phá
XIII. QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG KHOAI LANG TV1 VÀ H12
TV1 và H12 là 2 giống khoai lang lưỡng dụng: sử dụng cả thân lá và củ để ăn. TV1 cho năng suất củ cao, đạt 20-22 tấn/ha, H12 cho năng suất thân lá đạt 25-27 tấn/ha. Hai giống này có chất lượng thân lá cao, làm rau ăn đều tốt. Chất lượng củ TV1 ngọt, H12 bở và thơm. TV1 và H12 có thời gian sinh trưởng từ 90-110 ngày tuỳ theo thời vụ.
1. Xác định thời vụ:
- Nói chung, khoai lang có thể được trồng quanh năm đều cho thu hoạch: thân lá hoặc củ để ăn và chăn nuôi.
- Tuỳ theo mục đích sử dụng củ hay thân lá mà xác định thời vụ trồng cho phù hợp và đạt mục đích.
Vậy tuỳ giống, tuỳ mục đích sủ dụng mà xác định thời vụ cho thích hợp cho địa phương để đạt năng suất cao về củ hay thân lá.
2. Chọn đất và làm đất:
2.1. Chọn đất
-Khoai lang là cây dễ tính, trồng được trên các loại đất khác nhau. Dân gian có câu:” Khoai đất lạ, mạ đất quen”. Ngay cả đất mới khai phá cũng trồng được khoai lang, nên còn gọi là cây tiên phong.
- Loại đất thích hợp nhất: đất cát, đất cát pha và đất thịt nhẹ.
- Vụ khác nhau, khoai lang được trồng trên chân đất khác nhau: Vụ Xuân trồng trên chân đất thoát nước; vụ Đông trông trên chân đất chủ động nước tưới
- Nói chung: + Đất để trồng khoai lang lấy củ nên chọn đất nhẹ, tơi xốp, chủ động tưới tiêu.
+ Đất trồng khoai lang lấy thân lá chỉ cần chủ động tưới tiêu tốt, bảo đảm độ ẩm đủ 80% ĐATĐ.

2.2. Kỹ thuật làm đất, lên luống và bón phân lót.
* Làm đất:
- Cày sâu, bừa kỹ để đạt yêu cầu đất tơi, xốp.
- Hướng luống: Đông-Tây hoặc Đông Bắc-Tây Nam.
- Kích thước luống vụ Đông hẹp hơn vụ Xuân. Riêng giống TV1 ở vụ Đông làm luống rộng 0.8-1 m là vừa, còn giống H12 luống rộng từ 1-1.2 m.
* Kỹ thuật lên luống: Lên luống, bón phân lót nông ở giữa luống để đạt năng suất củ và thân lá cao.
3. Phân bón và liều lượng bón
- Mức trung bình nên bón cho 1 sào Bắc bộ (360 m2) là:
+ Phân chuồng 300-400 kg
+Phân đạm urê 3-5 kg
+Phân lân super 10-15 kg
+Phân kali clorua : 3-5 kg
- Chia ra 3 lần bón sau:
+ Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân và 1/3 lượng đạm, 1/3 kali.
+ Bón thúc 2 lần: mỗi lần 1/3 lượng đạm và 1/3 kali.
4. Kỹ thuật trồng:
- Kỹ thuật trồng giống khoai lang lấy củ TV1 quyết định 50-60% năng suất củ.
- Kỹ thuật trồng chú ý 3 vấn đề: Nông, thẳng dây và dọc giữa luống.
Chú ý thao tác trồng bằng tay, sau khi đã lên luống, tạo rãnh trồng và vun rõng sạch, xong để trồng bằng tay.
5. Chăm sóc
5.1. Bấm ngọn:
- Từ 20-30 ngày sau trồng nên bấm ngọn của nhánh chính để khoai lang mọc nhiều nhánh cấp 1.
5.2. Xới, bón thúc và vun: gồm 2 lần
Lần 1: - 15-30 ngày sau trồng
- Xới nghiêng cuốc và sâu, cách gốc 20 cm
- Bón 1/3 đạm, 1/3 kali
- Vun nhẹ lấp phân.
Lần 2: - 45-60 ngày sau trồng (sau lần 1 là 15-20 ngày)
- Xới nhẹ, nông, xa gốc 25-30 cm
- Bón nốt 1/3 đạm, 1/3 kali còn lại
- Vun cao lấp kín gốc khoai.
Chú ý: Xới và vun 2 lần có khác nhau ( trái ngược nhau)
5.3. Tưới nước
Vụ khoai lang có 2 kỳ tưới quan trọng:
- Tưới giữ ẩm (80% ĐATĐ) ngay sau trồng khoảng trong 1 tuần đầu, vào buổi sáng sớm.
- Tưới đủ ẩm (80% ĐATĐ) sau lần vun thúc thứ 2 khoảng 1 tuần, khi khoai đang phủ kín luống, tưới rãnh để nước không ngập luống, nước cao 1/3 luống là vừa ngấm, chỉ đủ ngấm là tháo nước đi ngay.
- Cách kiểm tra độ ẩm: nắm đất như cơm nắm.
- Nguyên tắc tưới rãnh: xa trước, gần sau; cao trước, thấp sau.
5.4. Nhổ cỏ gốc, nhấc và vắt dây.
- Thăm đồng định kỳ 1 tuần 1 lần, kết hợp cắt tỉa dây cho lợn, phải chú ý nhổ cỏ gốc, nhấc dây hoặc vắt dây không cho bò sát đất, không để ra rễ phụ ở mặt rõng và luống .
6. Cắt tỉa nhánh thân lá làm rau chăn nuôi
Ta có thể cắt tỉa nhánh già, sát đất luống để được rau xanh, vẫn bảo đảm tán lá thì không ảnh hưởng đến năng suất củ khoai. Chú ý kỹ thuật như sau:
- Sau phủ luống (50-60 ngày sau trồng) ta bắt đầu cắt tỉa dần từ 1 đến 3 nhánh già, sát đất trước (mỗi lần nên cắt 1 nhánh/1 cây).
- Kỹ thuật cắt: để lại cách gốc 15-20 cm không cắt sát gốc cây.
- Các lần cắt nên cách thưa 15-20 ngày/1 lần cắt, phụ thuộc diện tích trồng khoai lang với đàn lợn nuôi.
- Chăm sóc sau cắt tỉa: riêng trồng giống lấy thân lá thì sau cắt tỉa nên bón hoặc tưới phân.
7. Thu hoạch và bảo quản
7.1. Thu hoạch:
- Khoai già củ đã chín, ta nên thu ngay.
- Thu hoạch vào ngày không mưa để thân lá và củ đều sạch, dùng cho chăn nuôi dễ dàng và bảo quản củ tốt.
7.2. Bảo quản
- Đem củ về rải mỏng ở chỗ thoáng gió (không chất đống).

 

 

  PHẦN III. MỘT SỐ SÂU BỆNH HẠI CÂY TRONG VƯỜN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

 

A. SÂU BỆNH HẠI CÂY ĂN QUẢ TRONG VƯỜN GIA ĐÌNH.

Các loại cây ăn quả là các cây thường bị nhiễm nhiều loại sâu bệnh gây hại. Mức độ bị hại, thời gian sâu bệnh gây hại thay đổi rất nhiều tuỳ thuộc vào giống cây, vào kỹ thuật canh tác và vào các điều kiện sinh thái của vùng trồng.

Phát hiện các loài gây hại cũng như tiến hành các biện pháp phòng trừ chúng trên các loài cây ăn quả có những đặc điểm riêng khác với những công việc này khi được tiến hành trên các loài cây lương thực như lúa, ngô và các loại cây trồng hàng năm khác.
Những đặc điểm sau đây cần chú ý:
- Cây ăn quả có sản phẩm là quả. Đó là loại thực phẩm được dùng tươi hoặc thông qua chế biến đều yêu cầu phải sạch, không có các dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật cũng như các mầm mống, tàn dư của sâu bệnh.
- Cây ăn quả thường được trồng trong vườn nhà hay trong vườn cây gần nhà. Vì vậy, môi trường trong vườn cần sạch sẽ, không bị ô nhiễm vì nó rất dễ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, vật nuôi.
- Hệ sinh thái vườn cây ăn quả là HST tương đối ổn định (ổn định hơn HST ruộng) vì các mối quan hệ giữa các loài vi sinh vật thường tương đối bền vững.
Do đó công tác phòng trừ sâu bệnh trong các vườn cây ăn quả cần được tiến hành trên cơ sở một số nguyên tắc sau:
- Sử dụng các giống chống chịu sâu bệnh, gốc ghép chống chịu sâu bệnh. Thâm canh tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, bằng cách đó nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh của cây.
- Bảo vệ và phát huy các loài thiên địch, thu hút các loài thiên địch, tạo điều kiện cho chúng cư trú và phát triển.
Tích cực sử dụng các biện pháp đấu tranh sinh học như: thả gà ra vườn cho chúng nhặt sâu, làm chỗ đặt thức ăn thu hút chim sâu và các loài chim khác vào cư trú trong vườn.
- Giữ gìn vệ sinh vườn cây, kịp thời thu gom lá, hoa, quả rụng, cành gãy… Hàng năm tiến hành quét nước vôi hoặc thuốc Boócđô vào gốc cây.
- Thường xuyên quan sát, theo dõi diễn biến và phát sinh sâu bệnh trên cây. Hàng ngày ngắt các lá, quả bị sâu bệnh, bắt giết sâu xuất hiện trên cây.
- Hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng các loại thuốc BVTV. Chỉ phun khi thực sự cần thiết.

 

B. NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ THUỐC BVTV

1. Định nghĩa

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là những hợp chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hoá chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại
2. Các nhóm thuốc:
- Thuốc trừ bệnh - Thuốc trừ nhện
- Thuốc trừ sâu - Thuốc trừ tuyến trùng
- Thuốc trừ cỏ - Thuốc điều hoà sinh trưởng
- Thuốc trừ ốc - Thuốc trừ chuột

3. Các dạng thuốc BVTV

Dạng thuốc Chữ viết tắt Ghi chú
Nhũ dầu ND, EC Thuốc ở thể lỏng, trong suốt, dễ bắt lửa cháy và nổ
Dung dịch DD, SL, L, AS Hoà tan đều trong nước, không chứa chất hoá sữa
Bột hoà nước BTN, WP, DF, WDG Bột mịn, phân tán trong nước thành dung dịch huyền phù
Huyền phù FL, FC, SC Lắc đều trước khi sử dụng
Hạt H, G, GR Chủ yếu rãi vào đất
Dạng sữa EW Lắc đều trước khi sử dụng
Thuốc phun bột D, BR Dạng bột mịn, không tan trong nước
 

4. Cách tác động của thuốc

* Thuốc trừ sâu:
- Tiếp xúc: thuốc tác động qua da
- Vị độc: Thuốc tác động qua miệng
- Xông hơi: Thuốc tác động qua đường hô hấp
- Nội hấp hay lưu dẫn: Thuốc thấm vào trong tế bào và xâm nhập vào hệ thống mạch dẫn trong cây. Sâu chích hút hoặc ăn phần lá, vỏ cây có phun thuốc rồi chết.
- Thấm sâu: Thuốc thấm vào mô cây và diệt những côn trùng sống ẩn dưới những phần phun thuốc.
Ngoài ra còn có một số thuốc có tính xua đuổi hoặc gây ngán ăn đối với côn trùng.
* Thuốc trừ bệnh:
- Tiếp xúc: tiêu diệt nấm bệnh nơi tiếp xúc với thuốc và ngăn chặn sự xâm nhiễm tiếp tục của nấm bệnh.
- Nội hấp (lưu dẫn): Thuốc xâm nhập và di chuyển trong cây nhằm tiêu diệt nấm bệnh trong cây trồng.
* Thuốc trừ cỏ:
- Tiếp xúc: Thuốc hủy diệt các mô cây cỏ tiếp xúc trực tiếp với thuốc
- Nội hấp hay lưu dẫn: Thuốc được cỏ hấp thu và di chuyển đến các bộ phận làm thay đổi trạng thái sinh học của cỏ.
- Thuốc chọn lọc: Diệt một số loài cỏ dại nhưng không hại đến cây trồng.
- Thuốc không chọn lọc: Diệt cả cỏ dại lẫn cây trồng mà nó tiếp xúc.
- Thuốc tiền nảy mầm: Sử dụng khi cỏ chưa mọc thành cây.
- Thuốc hậu nảy mầm sớm: Diệt cỏ từ khi cỏ sắp mọc, đang mọc và đã mọc (2 lá trở lại).
- Thuốc hậu nảy mầm: Sử dụng khi cỏ đã mọc thành cây (trên 2 lá, đã có lá thật).
C. SÂU BỆNH HẠI CÂY CÓ MÚI
1. Bệnh chảy gôm (Phytophthora parasitica và P. citropthora)
Hay còn gọi là bệnh chảy nhựa, nấm gây ra bệnh thối gốc và lở cổ rễ ở vườn ươm.
a. Triệu chứng:
Bệnh chảy nhựa gây thối cục bộ ở phần vỏ gần gốc và có thể lan rộng ra toàn cây. Bệnh thể hiện với đặc trưng là chảy nhựa cây, giọt gôm (nhựa) hoà tan được trong nước và có thể bị hoà tan bởi mưa to.
Nấm xâm nhập qua vết thương, vết nứt ở vỏ cây sau đó xâm nhập vào mô tế bào mạch dẫn gây ra sự hoại tử và chảy gôm ở mặt ngoài vỏ.
Cây nhiễm nặng lá xanh nhạt, gân vàng; cây bị bệnh có thể bị tróc một khoanh vỏ dẫn đến suy thoái từng phần của tán, cành khô, lộc mọc ngắn
b. Đặc điểm phát sinh, phát triển:
2 loại nấm này tồn tại trong đất và phát triển trong điều kiện ẩm ướt. Thời tiết ẩm ướt kéo dài, mưa dầm giúp nấm lây lan và có thể gây nên sự bùng phát bệnh.
c. Biện pháp phòng trừ:
- Tốt nhất là chọn gốc chống bệnh
- Tránh làm thân cây bị thương, bị nứt nẻ
- Lau sạch nhựa (nạo khoét mô bị bệnh) sau đó dùng Boócđô (10%), Ridomil (0,3%), Aliette (0,3%), Casuran… quét hỗn hợp quanh gốc, nếu có thể nên bôi thuốc cùng chất dính không thấm nước (Vazơlin, Paraphin). Nên bôi nhựa đường trực tiếp vào vết bệnh sau đó.

2. Bệnh vàng lá cam (Greening)
Là bệnh rất phổ biến và tàn phá mạnh các vùng trồng cam ở nước ta, còn có tên gọi là bệnh Greening, bệnh Huanglungbin, vàng lá chè…Cây bệnh không có năng suất và bị tàn lụi dần.
a. Triệu chứng:
Bệnh do Liberobacter asiaticum gây ra, lây nhiễm từ giai đoạn vườn ươm. Bề mặt lá bệnh biến vàng loang lổ hoặc phiến lá vàng nhưng gân lá thì xanh. Bệnh ban đầu xuất hiện trên 1 số lá non sau đó lan dần ra toàn tán, rồi toàn cây. ở đọt non thấy rõ triệu chứng trong khi những phần còn lại thì vẫn thấy bình thường. Cây bị bệnh lùn nhỏ, tán lá không đều, lá nhỏ và có thể bị rụng sớm, lá già cũng biến vàng, cành khô, cây bị tàn lụi. Trên cành cây bị bệnh nặng, quả nhỏ, tâm lệch, hạt có màu nâu và bị lép, quả chua, tép khô.
Triệu chứng giống như thiếu Fe, Zn, Bo, Mg…
b. Đặc điểm phát sinh, phát triển:
Bệnh lan truyền theo 2 cách: chiết ghép cây do cành ghép từ cây bị bệnh và qua môi giới là rầy chổng cánhDiaphorina citri trong suốt thời gian hình thành lá non, lộc non.
c. Biện pháp phòng trừ:
- Áp dụng các biện pháp phòng trừ rầy chổng cánh một cách tích cực vào 2 cao điểm xuất hiện rầy chổng cánh.
- Bón phân đầy đủ, tạo điều kiện cho cây phát triển tốt.
- Dùng giống sạch bệnh. Chọn cành ghép kỹ lưỡng. Lấy mắt ghép từ các cây mẹ không bị bệnh. Dùng các cây gốc ghép kháng bệnh Greening.
- Khi phát hiện cây bệnh phải kịp thời nhổ bỏ và thiêu huỷ.
- Dùng thuốc trừ Rầy chổng cánh: Selecron (0,2%); Vifel (0,2%); Viphensa (0,2%)…
3. Rầy chổng cánh (Diaphorina citri)
Phòng trừ Rầy là biện pháp phòng trừ bệnh Greening hiệu quả nhất và cực kỳ quan trọng.
a.Triệu chứng:
Chích hút lộc non, nếu mật độ cao sẽ làm lá và chồi non dị dạng. Nguy hiểm nhất là truyền bệnh Greening từ cây bệnh tới cây khoẻ, làm cây tàn lụi.
b. Đặc điểm phát sinh, phát triển:
Rầy hoạt động từ tháng 2 tới tháng 11, 1 năm có khoảng 10 lứa, chích hút lộc non của cây: lộc xuân (T1-2), lộc hè, lộc thu và lộc đông
c. Biện pháp phòng trừ:
- Thực hiện vệ sinh đồng ruộng một cách đồng bộ
- Kết hợp với phòng trừ các loài sâu bệnh hại khác: rệp, sâu vẽ bùa…
- Dùng thuốc trừ: Selecron (0,2%); Vifel (0,2%); Viphensa (0,2%)…
4. Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella)
Là một trong những loại sâu phổ biến nhất gây hại trên cây có múi, chủ yếu phá hại ở thời kỳ vườn ươm và trong thời gian 3-4 năm đầu khi cây mới trồng.
a. Triệu chứng:
Sâu non dài khoảng 3mm, bướm sâu vẽ bùa có sải cánh khoảng 4mm, đẻ trứng dưới mặt lá non, búp non. ấu trùng xâm nhập vào dưới biểu bì và ăn thịt lá, các đường rãnh thường chứa phân màu thẫm; lá bị gây hại càng ngày càng bị biến dạng co rúm lại, vặn vẹo, nhỏ đi và cuối cùng là bị khô đi, dẫn tới cây phát triển chậm. Sâu non nhỏ, màu trắng và thường nằm ở cuối các đường đục trong lá. Mỗi bướm cái có thể đẻ 40-120 trứng, bướm chỉ đẻ 1 trứng/1 lá non.
b. Đặc điểm phát sinh, phát triển:
Bướm sâu vẽ bùa có thể đẻ tới 12 lứa/năm. ở miền Bắc sâu hoạt động chủ yếu trên lộc hè và lộc thu chính vụ (phá hại mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 10). ậ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sâu thường phá hại mạnh vào đầu và cuối mùa mưa. Sâu chủ yếu ở những cây dưới 5 năm tuổi.
c. Biện pháp phòng trừ:
- áp dụng các biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây ngay từ nhỏ.
- Cắt bỏ và tiêu huỷ ngay các lá bị sâu hại
- Sử dụng thiên địch là ong kí sinh.
- Tiến hành phun thuốc vào thời điểm xuất hiện triệu chứng đầu tiên và ngay sau khi có đợt lộc non (1-2 lần).
- Có thể sử dụng các loại thuốc sau: Selecron 500EC/ND; Nicotex; Decid 2.5EC; Padan 95SP…
Nếu có thể nên sử dụng thuốc Caltex-Oil (D-C-Tron Plus) tiêu diệt côn trùng nhưng vẫn bảo vệ được thiên địch.

5. Sâu đục thân cành (Chelidonium argentatum, Nađezhiella cantorri, Anoplophora sp)
a. Triệu chứng:
Sâu non đục lỗ vào trong thân gỗ, tạo thành đường hầm ngày càng lớn theo sự phát triển của nó, phá huỷ phần giác gỗ. Lỗ đục có thể tròn hay elíp. ở chỗ sâu đục, cây chảy nhựa và một số mùn gỗ trắng rơi ra ngoài từ các lỗ đục. Mức độ phá hại có thể nhận biết qua lượng mùn cưa do sâu non đẩy ra ngoài. Cành bị sâu đục khô héo và chết.
Sâu đục thân phá hại cây từ 2–10 năm tuổi.
b. Đặc điểm phát sinh, phát triển:
Sâu chỉ có 1 lứa trong năm, xuất hiện chủ yếu (đẻ rộ) trong thời gian tháng 5, 8, 9. Con cái đẻ trứng trên thân cây hoặc cành, thường là những vết nứt của vỏ. Sâu non có màu trắng sữa, dài tới 60mm, không rõ chân, phía trước to hơn phía sau. Bọ trưởng thành là một loài xén tóc có màu nâu xám hoặc màu lục ánh bạc. Bọ trưởng thành rất ít gây hại, đẻ trứng vào nách cành nhỏ cỡ 66 mm, mỗi cành 1-2 trứng. Trứng hình vảy ốc, màu vàng nhạt giống hạt ớt.
Nhộng hình thành từ tháng 3-tháng 5. Vòng đời của sâu: trưởng thành (4-5 ngày); trứng (8-13 ngày); sâu non (9 tháng); nhộng (1-1,5 tháng).
Sâu non sau khi nở đục ngay vào trong cành rồi đục xuống thân, gây hại nghiêm trọng cho cam từ 2 – 10 tuổi, hại từ 20 – 100 số cành. Một cây có thể bị tới 50 sâu đục phá huỷ phần thân gỗ làm cây bị khô héo cành và chết.
c. Biện pháp phòng trừ:
- Bắt bằng tay lúc trưởng thành ra rộ (tháng 5)
- Dùng gai mây luồn vào lỗ đục để bắt và giết sâu non.
- Cắt cành mới héo từ dưới lỗ đục mới nhất 20 cm đưa ra ngoài đốt.
- Khi sâu non đã lớn, bịt kín lỗ không cho sâu trưởng thành chui ra ngoài.
- Phun thuốc trừ sâu: Sau khi phát hiện ra lỗ đục, dùng xi lanh tiêm thuốc sâu vào lỗ đục bằng các thuốc như: Supracide (0,5%); Selecron (0,5%); Padan (0,5%); Sherpa (0,1%)…

6. Ruồi vàng đục quả (Dacus dorsalis Hendel)
Có 2 loài gây hại nặng và phổ biến nhất là Dacus dorsalis và Ceratitis capitata. Trong vài năm gần đây chúng gây hại tới >50% sản phẩm thu hoạch.
a. Triệu chứng:
Trên quả bị hại có thể quan sát thấy những lỗ nhỏ khoảng 1mm. Sâu non đào lỗ và chui vào trong tép, thường có giọt gôm nhỏ từ trong lỗ chảy ra. Quả bị đục thường nhiễm nấm bán ký sinh, vết bệnh bắt đầu thối và biến nâu, thịt quả thối rữa và quả rụng xuống.
b. Đặc điểm phát sinh, phát triển:
Ruồi có thân dài 7 mm (Dacus dorsalis), 4-5 mm (Ceratitis capitata), thân có màu nâu chân vàng, ngực đỏ cánh không màu hoặc có nhiều đốm. Có 4-5 lứa/năm.
Ruồi cái đục vỏ quả đang chín hoặc chín đẻ trứng, giòi khi nở có màu trắng dài khoảng 1mm, lớn lên có màu vàng, sau khi nở giòi đào sâu thẳng vào tép quả sinh sống khoảng 10-20 ngày trước khi quả thối rụng xuống đất, giòi chui ra khỏi quả và hoá nhộng trong đất.
Ruồi cũng gây hại trên xoài, lê, đu đủ, sung…
c. Biện pháp phòng trừ:
- Dùng túi nilon hoặc túi lưới bọc quả lại có thể chống ruồi vàng và 1 số sâu khác.
- Quả chín không để lâu trên cây, cần thu hái nhanh gọn.
- Thu gom các quả rụng, chôn sâu vào đất xa vườn cây.
- Xới đất quanh gốc để diệt nhộng.
- Dùng bẫy bả diệt trưởng thành: là phương pháp rất dễ làm, dùng hỗn hợp 5ml mật ong (đường + dấm) + 0,1-0,2% thuốc Dipterex (Vizubon) trong 1lít nước, đổ vào chai nhựa đã cắt đầu rồi buộc lên cành cây (1 bẫy/cây), có thể bỏ thêm vài lát cam mỏng để tăng thu hút.
- Dùng thuốc hoá học: 2-3 tuần trước khi thu hoạch quả có thể phun thuốc để diệt ruồi như: Dipterex, Sherpa…

7. Ngài sâu đục quả (Ophideres sp)
a. Triệu chứng:
Quả chín thường dễ bị chích hút nhưng quả xanh cũng bị hại. trên vỏ quả có thể có nhiều lỗ đục, có trường hợp có đến 40-50 lỗ đục. Quả bị đục thường bị nhiễm nấm bán ký sinh rồi rụng, dùng tay bóp mạnh sẽ thấy dịch quả phụt ra từ các lỗ đục.
b. Đặc điểm phát sinh, phát triển:
Xuất hiện 2-4 lứa trong năm, bướm chủ yếu xuất hiện vào mùa hè và mùa thu khi quả chín. Ngài có thân dài 3-4mm, cánh trước có màu nâu, cánh sau màu vàng với 2 vệt đen to hình vòng cung. Là loài ngài đêm nên thường gây hại chủ yếu và đẻ trứng vào ban đêm.
c. Biện pháp phòng trừ:
- Dùng túi nilon hoặc túi lưới bọc quả lại có thể chống ruồi vàng và 1 số sâu khác.
- Quả chín không để lâu trên cây, cần thu hái nhanh gọn.
- Thu gom các quả rụng, chôn sâu vào đất xa vườn cây.
- Thu gom và đốt lá khô vào ban đêm đuổi ngài bay đi nơi khác.
- Dùng bẫy đèn bắt ngài kết hợp với dùng chậu bả trong vườn thu hút bướm đến hút nước bả (nước quả cam + đường + thuốc sâu) như: Methyl parathion, Azodrin…
- Mùa quả chín dùng Diazinon phun vào ban đêm.
8. Rệp sáp (Pseudococcus sp)
a. Đặc điểm và triệu chứng:
Sinh sống gây hại ở chùm quả, mặt dưới lá, cành tiêu và ngay cả ở dưới rễ. Chích hút nhựa làm chùm quả héo rụng non và tạo điều kiện, môi trường cho nấm muội phát triển làm đen vỏ quả, mặt lá, ảnh hưởng đến quang hợp.
Sống thành ổ, trứng nở rệp non trên mình chưa có sáp trắng di động rất nhanh tìm nơi sinh sống cố định (chùm quả, cuống lá…) sau vài lần lột xác trên mình phủ lớp sáp bông trắng do rệp tiết ra từ các hạch, sáp tiết ra ngày càng nhiều phủ kín rệp và cả ổ rệp. Chính lớp sáp không thấm nước này bảo vệ rệp chống lại ngoại cảnh bất lợi cũng như thuốc trừ sâu.
Rệp sáp có loài kiến cộng sinh bằng cách kiến đen tha rệp từ nơi này sang nơi khác, từ cây này sang cây khác mỗi khi chỗ rệp đang chích hút đã cạn kiệt nhựa. Ngược lại, trong chất bài tiết của rệp có chứa nhiều chất đường mật làm thức ăn cho kiến.
* Rệp sáp cùng với rệp muội đều phát sinh phát triển mạnh trong mùa nóng và đầu mùa mưa (nắng mưa bất thường).
b. Biện pháp phòng trừ:
Như đã nói ở trên, do đây là một loài côn trùng đa ký chủ, vì thế việc phòng trừ chúng không phải lúc nào cũng thu được kết quả mong muốn, do chúng thường xuyên có mặt trên những loại cây trồng khác nhau trong vườn.
Để phòng trị rệp sáp nên áp dụng nhiều biện pháp sau đây:
- Không nên trồng với mật độ quá dày để vườn luôn được thông thoáng.
- Vệ sinh vườn tược thường xuyên, cắt tỉa bỏ những cành bị sâu bệnh, cành nằm khuất trong tán… để vườn luôn thông thoáng. Chăm sóc chu đáo để cây sinh trưởng và phát triển tốt, có sức chống đỡ với rệp.
- Dọn sạch cỏ rác, lá cây tủ mục xung quanh gốc để phá vỡ nơi cư trú của kiến, nếu thấy xung quanh gốc có nhiều kiến có thể dùng thuốc Padan, Basudin hoặc Regent hạt rải xung quanh gốc hoặc phun thuốc trừ sâu để diệt kiến.
- Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện và phun thuốc diệt trừ rệp kịp thời nhất là ở giai đoạn cây đang ra hoa, quả non. Có thể sử dụng các loại thuốc như: Applaud 10WP; Supracid40EC/ND; Suprathion 40EC; dầu khoáng DC-Tron Plus 98,8EC; Bitox 40EC/50EC; Butyl 10WP; Bian 40 EC; Bassan 50EC; Decis; Trebon… ở giai đoạn quả già sắp chín nếu có phun thuốc phải chú ý đảm bảo thời gian cách ly của thuốc để giữ an toàn cho người sử dụng. Nên đọc kỹ hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất in trên bao bì. Khi phun thuốc cũng nên phun thuốc trên những loại cây ăn quả khác trong vườn.
D. SÂU BỆNH HẠI TÁO
Vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8 khi phát hiện có sâu cắn lá, sâu cuốn lá hoặc nhện đỏ, phải tiến hành phun thuốc Wofatox hoặc những loại thuốc đặc trị khác, pha loãng theo tỉ lệ 0,1%. Tốt nhất là phun định kỳ 15 ngày/lần. Trước khi táo ra hoa rộ khoảng tháng 8, 9 dù không có sâu cũng nên phun thuốc đề phòng sâu đục quả non.
Trong thời gian táo ra hoa rộ nên hạn chế phun thuốc để tránh hiện tượng rụng hoa. Khi táo có quả non nếu phát hiện sớm có sâu đcụ quả thì có thể phun thuốc Bi58 pha loãng.
Trong tháng 6 – 7 xén tóc thường đẻ trứng vào thân cây và sâu non gặm vỏ tạo thành đường xoáy trôn ốc xung quanh thân cây cắt đứt con đường vận chuyển nhựa từ trên xuống làm cây bị vàng và có khi bị chết. Cách trừ chính là dùng mũi dao sắc rạch theo đường sâu gặm mà bắt sâu non rồi dùng Wofatox pha với tỉ lệ 0,2% bôi vào chỗ bị gặm. Để đề phòng loại sâu này hàng năm khi đốn cây dùng 100g Basudin hoà vào trong 10 lít nước trộn với phân bò hoặc đất sét quét lên thân cây từ mặt đất lên cao đến 1m. Không nên trộn với vôi vì sẽ làm cho thuốc mất hiệu lực. Khi phát hiện có cành bị héo đột ngột phải nghĩ ngay tới sâu đục thân cành, cách phong trừ chính là kiểm tra thường xuyên, cắt bỏ kịp thời những cành bị sâu và tiêu diệt sâu non.
Bệnh hại đối với táo hiện nay sơ bộ mới phát hiện 2 loại là: bệnh phấn trắng thường phát sinh phát triển trên lá non khi ẩm độ không khí cao (>85%) và nhiệt độ thấp (<200C). Hiện nay tác hại của bệnh này không lớn vì mùa phát sinh bệnh thì cây đang ở thời kỳ nuôi quả, cành lá già ít bị bệnh. Biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng chủ yếu là cắt tỉa hết những lá bị bệnh. Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là không nên ghép muộn sau tháng 9 và đối với cây trồng ngoài sản xuất thì không nên đốn cành quá sớm vì cành lá non nảy lên khi gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp sẽ dễ bị nhiễm bệnh.
Đáng chú ý là bệnh thối quả thường phát sinh phát triển vào thời kỳ quả già sắp chín. Quả bị thối rất nhanh, trong vòng một tuần lễ có thể bị thối hết quả trên cây. Có 2 loại là:
Bệnh thối nhũn: làm quả thâm đen, ủng nước có thể do vi khuẩn Erwinia gây nên. Và bệnh héo quả làm quả nhăn nheo hơi khô, trông như quả bị mất nước nhanh , có thể do nấm Phytophthora cactocum gây nên.
Bệnh thối quả: gây tác hại lớn trong sản xuất. Hiện nay chưa có biện pháp triệt để tuy nhiên muốn hạn chế bệnh phát triển cần lưu ý là trong thời kỳ táo có quả nên thường xuyên cắt tỉa những cành lá vô hiệu và quả sâu, héo nhăn nheo để làm cho tán cây thoáng gió và hứng được nhiều ánh sáng.
E. SÂU BỆNH HẠI HỒNG XIÊM
1. SÂU ĐỤC QUẢ (Alophila sp.)
Sâu đục quả được xem là sâu hại nguy hiểm nhất trên hồng xiêm. sâu có thể làm giảm 70 – 80% năng suất, cá biệt có những vườn ở Cần Thơ có đến 100% số quả bị sâu gây hại.
Sâu hại từ lúc quả nhỏ (đường kính quả 1-1,2cm) cho đến lúc thu hoạch, sâu hại mạnh nhất từ lúc quả 3-4 tháng tuổi trở đi. Vị trí đục lỗ thường là chỗ tiếp giáp giữa các quả với nhau. Sau khi chui vào trong quả sâu đục ruột quả thành những đường hầm tương đối rộng rồi ở luôn trong đó. Có con chỉ tạm trú trong ruột một thời gian ngắn rồi lại chui ra ngoài đục phá quả khác. Một con sâu có thể gây hại nhiều quả trên 1 chùm. Trong một quả thường chỉ có một con sâu, song có quả có đến 2, 3 hoặc 4 con.
Ở các tỉnh phía Nam sâu thường gây hại trong các tháng mùa khô đặc biệt là tháng 1, 2, 3. Những vườn hồng xiêm già cỗi, những vườn ít được chăm sóc… là những vườn sâu gây hại nặng hơn.
Biện pháp phòng trừ:
- Định kỳ cắt bỏ cành già, cành khuất trong tán, cành sâu bệnh tạo cho vườn cây thông thoáng, hạn chế nơi trú ẩn của sâu trưởng thành.
- Thu gom và tiêu huỷ những quả bị sâu hại còn sót lại trong vườn.
- Những vườn đã quá già cỗi cho năng suất và hiệu quả tương đối thấp nên phá bỏ lập vườn mới.
- Kiến hôi (Dolichodrus thoracicus) là loại kiến có khả năng khống chế mật độ của sâu, vì vậy nên huỷ và nuôi kiến hôi trong vườn.
- Có thể dùng các loại thuốc trừ sâu như Sumicidin 10EC hoặc 25EC; First 20EC; Sumicombi 30EC; Bian 40EC; Sevin… Liều lượng và cách sử dụng thuốc tuỳ theo hướng dẫn của người sản xuất có in trên bao bì.
Chú ý bảo đảm thời gian cách ly của thuốc để tránh gây độc hại cho người ăn.
* Ngoài sâu đục quả thì Hồng xiêm còn bị một số loài sâu khác gây hại là: Sâu đục cành, rệp hại hồng xiêm, ruồi đục quả, ngài hại lá-hoa, bệnh đốm lá-thân-cành.
G. SÂU BỆNH HẠI NHÃN VẢI
1. Sâu đục thân nhãn vải (Aristobia testudo)
a. Triệu chứng:
Sâu non đục vào thân cây, hướng về phía gốc. Trên miệng lỗ đục thường có phân sâu đùn ra ngoài. Đến tháng 6 năm sau sâu non hoá nhộng và tự đục lỗ chui ra ngoài. Những cây, cành bị sâu đục thân sẽ còi cọc kém phát triển, lá nhỏ bị vàng hơn, cây cho năng suất quả kém, gây chết cành thậm chí là chết cả cây.
b. Đặc điểm phát sinh, phát triển:
Nhộng hoá trưởng thành vào tháng 6-7, sau khi giao phối, con cái đẻ trứng vào các kẽ vỏ cây. Trưởng thành dài 30-33mm, phần đầu ngực và bụng có màu đen, miệng nhai phát triển, lưng có màu vàng đậm, vân đen chia cánh thành hình mai rùa.
Sâu non có màu trắng ngà, đầu có màu đen, có miệng nhai rất phát triển.
c. Biện pháp phòng trừ:
- Phát hiện kịp thời các lỗ sâu đục thân và phòng trừ kịp thời.
- Bắt bằng tay lúc trưởng thành ra rộ (tháng 5).
- Dùng gai mây luồn vào lỗ đục để bắt và giết sâu non.
- Cắt cành mới héo từ dưới lỗ đục mới nhất 20 cm đưa ra ngoài đốt.
- Khi sâu non đã lớn, bịt kín lỗ không cho sâu trưởng thành chui ra ngoài.
- Phun thuốc trừ sâu: Sau khi phát hiện ra lỗ đục, dùng xi lanh tiêm thuốc sâu vào lỗ đục bằng các thuốc như: Supracide (0,5%); Selecron (0,5%); Padan (0,5%); Sherpa (0,1%)…
2. Bọ xít hại nhãn vải (Tessaratoma papillosa Drury)
a. Triệu chứng:
Sâu non và sâu trưởng thành của bọ xít vải đều hại cây. Chúng chích hút dinh dưỡng ở các chồi non, quả non, gây ra hiện tượng hoa, rụng quả.
b. Đặc điểm phát sinh, phát triển:
Là loài sâu hại biến thái không hoàn toàn, có 3 pha phát triển là trứng-sâu non và trưởng thành. Sâu trưởng thành sống, chích hút cây và qua đông trên nhãn vải hoặc tránh rét ở cây dứa và các cây khác ven bờ sông, bờ suối. Khi đến mùa xuân, thời tiết ấm áp vải nhãn ra lộc, bọ xít trưởng thành tập trung về nhãn vải giao phối và đẻ trứng. Bọ xít trưởng thành bắt đầu đẻ trứng vào giữa tháng 3, chúng thường đẻ vào buổi sáng. Trứng đẻ ở mặt sau của lá, đôi khi đẻ ở chùm hoa, mỗi ổ từ 13-14 quả. Mỗi con cái đẻ được 64-68 quả. Trứng mới đẻ có màu xanh lục, khi gần nở chuyển sang hồng-đen. Thời gian trứng từ 11-15 ngày tuỳ thuộc vào nhiệt độ.
Trứng bọ xít bị nhiều loài ong ký sinh, đó là Anatatus aff. Japonicus và ong Oeneyrtus fongi Tryapizin.
Sâu non có 5 tuổi, tuổi 1-2 sống tập trung, tuổi 3-4 sống phân tán.
c. Biện pháp phòng trừ:
- Khi mùa xuân về, bọ xít trưởng thành tập trung trở về nhãn vải để giao phối đẻ trứng với mật độ cao và khá tập trung do đó có thể bắt và diệt trưởng thành.
- Khi bọ xít đẻ, trứng thường tập trung ở mặt sau của lá, quan sát và ngắt bỏ các ổ trứng (chỉ áp dụng được với cây ít tuổi, tán thấp)
- Sử dụng 2 loài ong ký sinh ở trên vào cuối vụ vì tỉ lệ ký sinh ở trên rất cao vào cuối vụ (tháng 6).
- Dùng các loại thuốc như: Dipterex, Sherpa… để trừ bọ xít trưởng thành và bọ xít non.
Để trừ bọ xít trưởng thành có hiệu quả cao nên phòng trừ trước khi bọ xít giao phối và đẻ trứng.
Bọ xít non nên trừ khi chúng còn sống tập trung (tuổi 1, 2 hoặc đầu tuổi 3) trước khi chúng phân tán ra quả non gây hại.
3. Nhện lông nhung hại nhãn vải (Eriophyes litchii Keifer)
a. Triệu chứng:
Nhện trưởng thành di chuyển và xâm nhập vào các chồi non mới nhú, sinh sống và đẻ trứng. Sâu khi lá non mở ra được 1-1,5cm đã xuất hiện những sợi lông nhung. Ban đầu vết lông nhung có màu xanh hơn bình thường, sau đó chuyển sang màu trắng bạc, trắng hơi vàng rồi vàng nâu và cuối cùng chuyển sang nâu sẫm. Nhện lấy dinh dưỡng từ lá làm cho lá sinh trưởng phát triển kém, nhỏ và cong queo, có lớp lông nhung dày đặc ở mặt sau làm ảnh hưởng xấu đến khả năng quang hợp.
Những hoa có nhện lông nhung sinh sống thường không có khả năng nở hoa và thụ phấn. Những quả non có nhện lông nhung sinh sống thì quả không lớn lên được và sau đó đều bị rụng.
Nhện sinh sống, tiếp tục sinh sản những thế hệ tiếp theo trong lớp lông nhung.
b. Đặc điểm phát sinh, phát triển:
Ở miền Bắc nhện phát sinh quanh năm, vụ xuân nhện phát sinh mạnh nhất và gây thiệt hại nhiều hơn vụ hè, vụ thu và vụ đông.
Nhện đẻ trứng đơn tại gốc các sợi lông nhung, thời kỳ trứng 2,5 ngày, nhện có 5 tuổi. Vòng đời từ 15-19 ngày tuỳ điều kiện nhiệt độ.
Đường lan truyền của nhện chủ yếu là nhờ gió, ngoài ra chúng có thể tự di chuyển từ cây này đến cây khác hoặc những vùng rất gần nơi chúng sinh sống. Khi tới nơi ở mới nhện tiếp tục sinh sản, khi lông nhung trên lá có màu vàng nâu là lúc thế hệ cuối cùng của nhện đã trưởng thành, lá đã già không còn thích hợp cho nhện lông nhung sinh sống và nhện bắt đầu di chuyển đi tìm nơi cư trú mới.
Thời gian bắt đầu xuất hiện những sợi lông nhung đầu tiên đến khi nhện bỏ đi là từ 50-58 ngày.
Những chồi có nhện lông nhung sinh sống thì hầu hết những lá non đều bị lông nhung.
Trên lá, nhện lông nhung chỉ sinh sống ở phía dưới nhưng ở hoa quả non thì không có sự phân biệt.
c. Biện pháp phòng trừ:
- Thu gom, ngắt bỏ những cành lộc bị lông nhung. Biện pháp này phải được thực hiện trước khi lông nhung có màu vàng nâu.
- Khi các lộc non vừa nhú, phòng trừ muộn hiệu quả phòng trừ sẽ thấp.
- Sử dụng các loại thuốc hoá học chuyên trừ nhện như: Pegasus 500ND; Ortus 3SC; Regent 800WP…
* Ngoài ra nhãn, vải còn bị một số loài sâu bệnh khác gây hại như: sâu đục quả vải (Acrocercop cramerallaSmellem); ve sầu bướm (Ricania speculum Walker); Rệp muội hại vải (Aphadidae), dơi, bệnh chết rũ (Phytophthora spPythium spFusarium solaniRhizoctonia spCylindrocladium sp), bệnh thán thư (Collectotrichum), bệnh sương mai (Peronospora sp), tơ hồng (Cassytha filiformis).

H. SÂU BỆNH HẠI KHẾ
Chưa có loại bệnh nấm, virus nào nguy hiểm đối với khế. Các loại sâu đáng chú ý là ruồi đục quả, sâu non thuộc bộ cánh phấn, đục vào quả và có thể ăn cả hoa và quả non.
I. SÂU BỆNH HẠI XOÀI
1. Sâu đục chồi, cuống xoài
a. Sâu đục cành non xoài (Chlumetia transversa  Alcicoides sp.):
Chúng thuộc bộ cánh phấn. Thành trùng là con ngài nhỏ có sải cánh 1,75cm. Con cái đẻ trứng trên lá. Sâu non khi mới nở ra thì đục ngay vào lá, sau đó chúng đục thẳng vào đầu các ngọn non, chùm hoa, ăn rỗng phía trong làm cho chồi non, cành hoa bị héo đi hoặc gãy đổ.
b. Sâu đục cành lớn xoài (Penicillaria jocosatrix):
Mặc dù không phổ biến nhưng sâu đục cành lớn thuộc bộ Lepidoptera, họ Noctuidae thường ăn chồi non, làm ngừng sinh trưởng của cây non trong vườn ươm, cây non và cả trên quả non, cuống quả. Ngài trưởng thành có cánh dài 25mm, mầu nâu đỏ với những dấu nhạt chạy ngang cánh trước. Cánh sau màu trắng có rìa nâu. Trứng màu chanh và đẻ từng quả một ở cả 2 mặt lá của chồi non. Sau 3-5 ngày trứng nở thành sâu non có màu xanh nhạt đến xám và dài tới 27 mm bắt đầu đục vào các chồi non, chồi hoa, cuống quả để gây hại làm héo chồi, gẫy cành và rụng quả non. Sâu non đẫy sức hoá nhộng trong đất và 16-20 ngày sau ngài xuất hiện. Sâu thường phát sinh, phát triển nhiều lứa trong mùa xuân và mùa hè nóng ẩm, nhất là các vùng khí hậu nhiệt đới. Thực tế thường thấy xuất hiện ở các tỉnh Quảng Bình trở vào, ít khi thấy ở các tỉnh phía Bắc.
c. Sâu đục cành xoài (Niphonolea albata  Niphonolea capito):
Chúng cũng thuộc bộ cánh phấn, thường gây hại bằng cách cắn tiện ngang ngọn của các cành non để đẻ trứng vào. Sâu non nở ra đục vào mô gỗ làm cành bị chết khô, thường gây hại nặng trong mùa mưa. Những cành ngọn sắp ra hoa cũng bị chúng gây hại nặng.
d. Một số biện pháp phòng trừ:
- Khi thấy các cành non mới bị héo đây là lúc các sâu non đang đục ngược ra phía ngọn cành, dùng kéo cắt hoặc bẻ bằng tay rất dễ vì chúng có lỗ đục ngang nên cành dễ gãy, ta sẽ loại bỏ được các con sâu non.
- Với các cành đã héo khô, lúc này sâu non đã đục xuống cành lớn hơn qua khỏi lỗ đục ngang ban đầu, ta có thể cắt sâu xuống một đoạn để loại bỏ sâu non hoặc nhộng đang nằm trong thân cành. Thu gom các cành này lại để đốt nhằm hạn chế lây lan vì khi sâu đã đục vào trong cành thì phun thuốc không có hiệu quả.
- Thường xuyên quan sát, phát hiện sâu, trứng sâu trên các đợt chồi non, lộc non, nhất là trước khi cây chuẩn bị ra lộc, ra hoa để kịp thời phun thuốc diệt trừ các con trưởng thành và trứng mới đẻ. Khi thấy có nhiều trứng hoặc sâu non có thể dùng các loại thuốc trừ sâu sau đây để phun trừ: Selecron 500ND, Supracide 50EC, Fastac 5EC, Padan 95SP v.v… Phun thuốc vào buổi chiều mát có tác dụng hơn các buổi khác trong ngày.
2. Xoài bị rụng quả
Mặc dù xoài thường ra hoa rất nhiều nhưng rụng hoa, rụng quả non cũng không ít, đôi khi tỷ lệ rụng hoa và quả non lên đến 99%. Dưới đây là một số nguyên nhân và biện pháp phòng chống tình trạng này ở xoài.

a. Nguyên nhân

- Xoài rụng hoa và quả non nhiều có thể do hiện tượng ra quả cách niên. Nhiều cây xoài, đặc biệt là những cây già thường kiệt sức sau một vụ mang quả nên vụ sau thường ra rất ít quả, hoặc không có. Tuy nhiên, cũng có những giống xoài như xoài cát, Thanh Ca thường xuyên xuất hiện hiện tượng ra quả cách niên.
- Thời tiết không thích hợp (mưa gió, ẩm thấp...) cũng ảnh hưởng đến sự thụ phấn vì nó cản trở sự hoạt động của những côn trùng thụ phấn hoặc làm rữa hạt phấn không cho nảy mầm trên nhụy hoặc làm vỡ hạt phấn. Tỷ lệ thụ phấn cao khi trời nóng và khô.
- Việc rụng hoa nhiều cũng có thể xuất hiện từ yếu tố di truyền, giống nào có cuống to thường ít rụng hoa và quả.
- Thiếu nước và dinh dưỡng trong thời gian mang quả cũng làm quả non rụng nhiều.
- Ngoài ra, một số sâu bệnh như: rày bông xoài, bù lạch, bệnh thán thư... cũng thường gây nên hiện tượng rụng hoa, quả non ở xoài.

b. Biện pháp khắc phục

- Cung cấp nước và dinh dưỡng đầy đủ cho cây trong thời gian ra hoa và mang quả (nếu thừa nước trong thời gian này cũng làm tăng khả năng rụng hoa, quả).
- Sau khi thu hoạch nên xén tỉa những cành bị sâu, cành già, đồng thời bón phân đầy đủ, nhất là phân đạm để giúp cây phục hồi nhanh và tích luỹ đủ chất dinh dưỡng cho vụ sau. Có thể phun thêm phân bón lá (có chứa đồng, kẽm, mangan và ma nhê) vào giai đoạn ra lá non để cây phát triển tốt.
- Hạn chế phun nhiều thuốc trừ sâu trong gia đoạn ra hoa để không ảnh hưởng đến các côn trùng thụ phấn, đặc biệt ruồi nhà là côn trùng thụ phấn tốt nhất cho xoài.
- Xác định đúng đối tượng sâu bệnh và chọn đúng thuốc để phòng trừ.
- Trong thời gian từ 2 - 7 tuần sau khi trổ, hoa (quả non) thường dễ rụng do cuống tạo tầng rời, vì thế nên phun chất điều hoà sinh trưởng như NAA hoặc GA3, có thể phun 2- 3 lần. Lần đầu khoảng 15-20 ngày sau khi hoa nở rộ, lần sau khi quả to bằng ngón tay cái. Giai đoạn đầu phun NAA (50ppm), những giai đoạn sau nên phun GA3 sẽ giúp cây phát triển nhanh và giảm rụng quả. Cần phun đúng liều lượng trong khuyến cáo để tránh gây thiệt hại cho cây trồng.
- Cần tỉa bớt quả nếu cây ra quá nhiều, nhất là những cây tuổi còn nhỏ, nếu để quả nhiều sẽ làm cây kiệt sức ở vụ sau.

K. SÂU BỆNH HẠI ỔI
1. Ruồi đục quả ổi
Quả ổi trong vườn đã bị con ruồi đục quả (Bactrocera dorsalis) gây hại. Loài ruồi này là một loại côn trùng đa thực vì ngoài ổi chúng còn gây hại trên rất nhiều loại quả cây khác, như: Mận, táo, sapô, đu đủ, xoài, thanh long, chôm chôm, mãng cầu xiêm...
Đây là loại sâu hại nguy hiểm nhất trên cây ổi, vì chúng gây thất thu rất lớn cho vườn cây. Ở Tiền Giang, Đồng Tháp có những vườn ổi bị chúng gây hại hầu hết số quả trong vườn. Loài ruồi này gây hại trên hầu hết các giống ổi. Giống ổi xá lị (ổi không hạt) là giống bị ruồi gây hại nhiều hơn, vì vậy, nên áp dụng một số biện pháp để hạn chế tác hại của chúng.
Biện pháp hạn chế tác hại của ruồi: 
- Thu hoạch quả sớm hơn bình thường, đừng để quả chín đeo quá lâu trên cây.
- Thường xuyên tỉa bỏ cành già, cành tăm, cành bị sâu bệnh... để vườn luôn được sạch sẽ và thông thoáng.
- Thu gom những quả bị rụng, những quả bị giòi đem tiêu hủy hoặc đem chôn, để hạn chế mật độ ruồi ở các lứa sau.
- Do con giòi hóa nhộng dưới đất xung quanh gốc cây nên bác có thể rải Basudin 10H, Vibasu 5H/10H; Padan 4G/10G, Regent 0,2G/0,3G... xuống xung quanh gốc ổi để diệt nhộng đang nằm dưới đất. Cũng có thể dùng "thuốc nhử ruồi" VIZUBON-D để dẫn dụ và diệt ruồi đực sẽ có tác dụng hạn chế tác hại của giòi rất lớn, biện pháp này nếu vận động được nhiều bà con trên một vùng rộng lớn cùng làm thì mới có kết quả cao.
- Không nên dùng thuốc hóa học phun trực tiếp lên quả ổi khi quả ổi sắp được thu hoạch vì rất dễ gây ngộ độc cho người ăn.

2. Ghẻ ổi
Đây là bệnh do nấm Venturia inaequalis gây ra. Nấm thường tấn công trên các phiến lá, cuống lá, hoa và quả non, ít khi tấn công trên các chồi non. Các sợi nấm thường lây lan qua các giọt nước, gió… và xâm nhiễm vào các lỗ khí khổng của các bộ phận non ở lá, cuống hoa, quả non để phát triển và gây hại. Trên lá, bệnh thường xuất hiện đầu tiên ở mặt dưới lá trước sau đó mới lan dần. Khi mới xuất hiện đốm bệnh có hình tròn, màu xám xanh, viền dần rõ nét hơn và có tơ màu đen hơi xanh. Sau một thời gian thì các sợi tơ này biến mất, vết bệnh mọc nhô lên trông như những chiếc gai nhỏ. Bệnh nặng làm cho lá bị nhỏ lại, rộp phồng lên và khô chết dọc theo bìa lá. Trên quả, vết bệnh có hình tròn, rõ nét, màu xanh xám, có các sợi tơ phát triển trên đó. Giai đoạn sau các vết bệnh chuyển màu nâu sẫm, nổi thành ghẻ và nứt. Nếu trên bề mặt quả có nhiều vết bệnh và bệnh phát triển mạnh sẽ làm cho quả bị biến dạng, méo mó, chất lượng kém, thịt quả cứng, ít nước và ăn không ngon, thậm chí bị rụng sớm.
3. Bệnh thán thư hại ổi do nấm Gloeosporium psidii và Glomerella psidii gây ra:
Trên quả ổi xanh xuất hiện các đốm đen nhỏ như đầu kim, sau đó phát triển thành các đốm tròn nâu sậm hay đen lõm vào thị quả. Trong điều kiện khô hạn, vết bệnh khô lại có nhiều vòng đồng tâm, vùng bệnh trở nên cứng, sù sì. Quả non cũng có các triệu chứng ghẻ. Quả bị bệnh nặng có thể bị méo mó, biến dạng và rụng sớm. Với điều kiện ẩm độ cao, các vết bệnh có thể làm nhũn cả quả, trên mặt vết bệnh có lớp phấn màu hồng. Bệnh thán thư cũng làm héo chết các mầm lá, hoa, quả non. Các ngọn cành biến màu nâu sậm, khô dần và chết cả ngọn, lá rụng hết trơ lại cành khô. Nếu trời ẩm, nấm có thể tạo các ổ nấm màu đen nằm rải rác trên các cành khô, từ đó xâm nhập, lây lan vào cuống và tấn công lá gây các đốm màu tím trên lá, bìa và chóp lá bị cháy. Bệnh cũng phát sinh, phát triển trong điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ lớn và dễ lây lan qua gió, nước mưa.
Biện pháp phòng trừ:
- Để phòng ngừa cả 2 bệnh nói trên cần xử lý hết nguồn bệnh trước khi trồng mới hoặc sau các vụ thu hoạch cần đốn tỉa triệt để và thu gom hết các tàn dư cây bệnh đem tập trung và đốt hết để tránh lây lan.
- Không nên trồng quá dầy làm vườn cây thiếu ánh sáng, cắt tỉa, tạo hình để các cây sinh trưởng phát triển tốt, có độ thông thoáng, tránh được ẩm độ cao trong vườn. Dùng vôi bột, Falizan để xử lý đất. Phun ngừa bằng Boócđô 1% hoặc các loại thuốc trừ nấm có gốc đồng như Copper-Zine, Copper-B, Oxít clorua đồng (25-30 g/bình 10 lít ), Benomyl, Zineb, Difolatan ở nồng độ 0,2% sau khi cánh hoa rụng rất có hiệu quả phòng ngừa.
- Khi có triệu chứng bệnh xuất hiện hoặc đã gây hại nặng thì nên dùng các loại thuốc trừ nấm mạnh, có tính nội hấp 2 chiều như Ridomil, Aliette 80WP, Topsin M pha nồng độ 0,3% (30g/bình 10 lít) phun kỹ trong và ngoài tán, phun ướt đẫm toàn bộ mặt tán. Cần lưu ý là các hợp chất đồng có thể làm lá bị đổi màu nêu đỏ (các giống ổi có màu đỏ nhạt tương đối ít bị ngộ độc hơn).
- Khi quả ổi đạt kích thước 2/3 - 3/4 kích thước tối đa có thể dùng biện pháp bao quả vừa hạn chế được sự gây hại của sâu bệnh đồng thời giúp cho quả mau lớn và giữ được màu sắc, mã quả đẹp sẽ bán được giá cao hơn. Với các giống ổi thì việc bao quả càng nên làm vì dễ làm, chi phí thấp mà hiệu quả lại cao. Có thể sử dụng túi nilon (có cắt vài lỗ nhỏ cho quả hô hấp) hoặc túi giấy chuyên dụng.
- Nên phun một số loại thuốc trừ nấm như Antracol 70WP, Topsin M 70WP, Copper-Zinc 85WP trước khi bao quả để quả không bị nhiễm bệnh sau khi bao.

L. SÂU BỆNH HẠI THANH LONG
1. Bọ xít hại thanh long
Đó là hai loài bọ xít là bọ xít xanh và bọ xít đen. Hai loài bọ xít này thường gây hại cho cây thanh long từ khi cây có nụ hoa cho đến khi hình thành quả. Chúng thường bu lại thành từng đám trên nhánh non, nụ hoa, quả non để gây hại. Cả con bọ trưởng thành và con bọ ấu trùng đều gây hại cho cây thanh long bằng cách chích hút nhựa, để lại những vết chích rất nhỏ, khi quả chín chỗ vết chích xuất hiện một chấm đen, vỏ quả sần sùi, làm mất giá trị thương phẩm. Nếu mật độ cao, gây hại nhiều mà bạn không áp dụng các biện pháp diệt trừ kịp thời thì có thể làm cho cây bị chết.
Để hạn chế tác hại của bọ xít có thể áp dụng kết hợp một số biện pháp sau:
- Không trồng qúa dầy, thường xuyên cắt bỏ các cành già, cành bị sâu bệnh... để vườn luôn thông thoáng hạn chế nơi trú ngụ và tác hại của chúng.
- Thu thập và nhử nuôi kiến vàng trong vườn thanh long để kiến tiêu diệt bọ xít.
- Dùng vợt tay để bắt bọ xít vào lúc sáng sớm hay chiều mát để bắt con trưởng thành.
- Hàng ngày khi chăm sóc vườn thanh long, nếu phát hiện thấy bọ xít thì bắt tiêu diệt ngay, đừng để đến lúc chúng sinh sôi nẩy nở, tích luỹ số lượng, gây hại nhiều, mới dùng thuốc hoá học để xịt thì vừa tốn kém tiền của công sức, gây độc hại cho người phun xịt, ô nhiễm môi trường mà đôi khi hiệu qủa mang lại cũng không cao.
- Ở những vườn thường bị bọ xít gây hại nặng hàng năm thì từ khi hình thành quả trở đi, hoặc ở những vườn có mật số bọ xít cao, nên sử dụng một số loại thuốc như: Bassa 50EC, hoặc Bassan 50EC, Basatigi 50EC, Hoppercin 50EC, Vibasa 50EC, Fastac 5EC (hoặc Vifast 5ND, Visca 5EC?)... để phun xịt. Trước khi sử dụng cần đọc kĩ hướng dẫn của nhà sản xuất có in trên nhãn thuốc. Sau khi xịt khoảng một tuần nếu thấy vẫn còn bọ xít thì nên xịt thêm một lần nữa.
2. Ruồi vàng hại trái cây.
Đây là đối tượng hại rất nguy hiểm đang được báo động hiện nay. Ruồi trưởng thành chích và đẻ trứng vào trái cây gây thoái hóa phần thịt quả làm quả thanh long bị thối không cho thu hoạch.
Phòng trừ bằng thuốc Ruvacol và Vizubol đã có chất dẫn dụ nên tiện cho nhà vườn hơn.
3. Bệnh thối đầu cành.
Ngọn thanh long chuyển mầu vàng rồi mềm sau đó thối, cây tăng trưởng chậm, số cành giảm hẳn. Bệnh sảy ra vào cuối mùa hè. Nguyên nhân là do nấm Alternaria sp. Gây ra, Trị bằng cách phun Roval 2 lần liên tiếp cáh nhau 1 tuần.
4. Bệnh đốm nâu trên cành.
Trên cành thanh long có những đốm tròn như mắt cua mầu nâu, vết bệnh nằm rải rác hoặc tập trung, thường kéo dài thành vệt dọc theo thân cành
Phòng trừ bằng cách vệ sinh đồng ruộng, tưới tiêu nước hợp lý. Biện pháp hóa học là phun Rovral hoặc Anvil phối hợp với Topas

M. SÂU BỆNH HẠI KHOAI LANG
7.1. Sâu bọ hà
- Vụ Xuân bị nhiễm nhiều hơn vụ Đông vì nhiệt độ cao hơn.
- Đất thịt, thịt nhẹ nhiễm nhiều hơn đất cát.
- Phòng trừ: + Nhử bọ hà trưởng thành bằng miếng củ để nó đẻ trứng vào miếng củ đó (gọi là bẫy củ)
+ Vun cao luống giữ đất ẩm.
+ Luân canh với lúa nước, hoặc ngâm đất ngập nước khoảng 3-5 ngày + Dẫn dụ sinh học
7.2. Sâu sa
- Vụ Xuân nhiều hơn
- Bắt bằng tay
- Luân canh
7.3. Sâu đục thân
- Vụ Xuân nhiều hơn
- Luân canh
- Vệ sinh đồng ruộng
7.4. Bệnh thối đen
-Chú ý dây giống sạch
- Luân canh
- Vệ sinh đồng ruộng
7.5. Bệnh thối củ:
Nguyên nhân chính: đất ẩm liên tục nhất là cuối vụ

N. SÂU BỆNH HẠI CHUỐI
Bệnh đốm lá Sigatoka: Do nấm Mycaspharella musicola và M fijiensis gây hại. Chúng phát triển trong điều kiện ấm ẩm, nhiệt độ 26-280C, mù trời, độ ẩm cao. Chúng gây hại chính trên lá tạo ra những hình bầu dục có mầu nâu với viền vàng rất rõ. Phòng trừ bằng cách vệ sinh đồng ruộng, cắt bỏ lá bệnh đem đốt, tháo nước, sử dụng các loại thuốc trừ nấm như Bordeaux 2%, Benomyl, manage…
Bệnh vàng lá Panama (héo rũ): Gây ra bởi nấm Fusarium oxysporum. Các lá bị vàng từ mép lá vào gân chính. Khi cắt ngang thân giả thấy các mạch dẫn truyền có mầu nâu đỏ. Bệnh liên quan nhiều đến tình hình dinh dưỡng trong đất như tỷ lệ mùn thấp, cấu trúc đất xấu, hàm lượng Zn thấp, tỷ lệ Ca/Mg, K/Mg cao thuận lợi cho nấm phát triển. Phòng trừ bệnh rất khó khăn, chủ yếu là phòng, tiêu huỷ cây bệnh, xử lý chồi tốt nhất là dùng giống in vitro, cải thiện tính chất lý hoá đất, dùng giống chống bệnh.
Bệnh chùn ngọn (Bunchytop): Có nhiều lá mọc chụm lại ở ngọn thân giả, lá nhỏ, mép lá vàng và bị cong đi, phiến lá có các đường sọc xanh nhạt chạy song song với gân chính. Bệnh do virus gây ra và lây lan do môi giới truyền bệnh là rệp. Biện pháp chủ yếu là phòng bệnh, trừ rệp, sử dụng giống sạch bệnh.
- Ngoài ra còn các bệnh như thối nõn, thối nâu quả…
Sâu đục thân chuối (Cosmopolite sordidus): Còn gọi là sâu vòi voi, phá hoại chủ yếu thân thật ở dưới đất. Phòng trừ bằng cách xử lý đất quanh gốc bằng Furadan, Basusin, vệ sinh cắt lá khô trên cây, đặt bẫy bả là những khúc chuối bổ đôi úp xung quanh gốc.
- Sâu hại lá chuối bao gồm sâu cuốn lá, sâu dóm gây hại trên phiến lá. Phòng trừ bằng cách ngắt bỏ lá bị sâu hại sống tập trung, phun thuốc trừ.
- Ngoài ra còn các loại sâu hại hoa quả như bọ trĩ, sâu tơ, nhện, bọ vẽ… ăn hại các phần hoa, vỏ quả non để lại vết sẹo, ghẻ xấu mã..
Tuyến trùng: Truyến trùng xâm nhập vào rễ làm vách tế bào, ngăn cản rễ hút dinh dưỡng. Phòng trừ chủ yếu xử lý đất bằng Furadan, Basudin.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây