CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN TRIỆU PHONG

http://trieuphong.quangtri.gov.vn


Đổi thay ở Triệu Phong

Ngày 1/7/1989, tỉnh Quảng Trị được lập lại, đến ngày 1/5/1990, huyện Triệu Phong được lập lại sau khi chia tách từ huyện Triệu Hải. Lúc này, huyện Triệu Phong có 21 xã, 19.520 hộ với diện tích tự nhiên 51.200 ha, trong đó có 7.426 ha đất nông nghiệp, 3.915 ha đất chuyên dùng, 18.129 ha đất lâm nghiệp, còn lại là đất khác, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm hầu như chưa có gì, trong lúc đó thiên tai bão lũ thường xuyên xảy ra.
Đổi thay ở Triệu Phong
Đứng trước khó khăn đó, Đảng bộ, chính quyền huyện Triệu Phong đề ra mục tiêu, phương hướng phát triển là: Từng bước hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông- lâm- ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến; mở mang thêm nhiều ngành nghề, phấn đấu ổn định và phát triển kinh tế- xã hội; cải tiến một bước cơ sở vật chất kĩ thuật và nâng cao tinh thần hăng say lao động sản xuất của nhân dân; từng bước xây dựng nông thôn; giữ gìn sự ổn định về chính trị, phát huy tinh thần dân chủ... Theo đó, cấp ủy, chính quyền, các ngành từ huyện đến địa phương đưa ra nhiều giải pháp để phát triển kinh tế- xã hội. Nhờ đó, chỉ sau 2 năm lập lại tỉnh Quảng Trị và sau 1 năm lập lại huyện, sản lượng lương thực của huyện Triệu Phong đạt 34.000 tấn, trong đó tỉ trọng cây lương thực lấy bột chiếm 12%, vượt 2.700 tấn so với năm 1990. Đến năm 2000, năng suất lúa bình quân của huyện đạt 102 tạ/ha/năm, tăng 18,8 tạ/ha so với bình quân 5 năm trước.
Trong những năm 1991- 1995, giá trị ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp bình quân hằng năm của huyện đạt khoảng 2.235 triệu đồng, chiếm 12,3% tổng giá trị sản phẩm nông, công nghiệp. Hoạt động sản xuất công nghiệp chỉ có các nghề như sản xuất gạch ngói, khai thác cát sạn, chế biến lâm sản, hải sản. Thương mại dịch vụ phát triển mạnh do có nhiều lợi thế. Các chợ nông thôn như chợ Thuận, chợ Hôm, chợ Sãi, chợ Cạn, chợ Bồ Bản đều được khôi phục và phát triển nhanh.
Năm 1991, tổng giá trị hàng hóa toàn huyện mua vào đạt 4.300 triệu đồng và hàng hóa bán ra đạt 4.700 triệu đồng. Đối với cơ sở hạ tầng, trong những năm 1991- 2000, bằng các ngồn vốn của trung ương, của tỉnh, toàn huyện đã nhựa hóa được 18,5 km đường nội thị, đường ven biển và tỉnh lộ 64, 68, cứng hóa 42 km mặt đường liên xã, liên thôn, mở thêm được 9 tuyến đường mới ra vùng cát, xây dựng cầu An Mô, cầu Mỹ Lộc và cầu Ba Bến. Ngành Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu huyện quy hoạch, sắp xếp lại trường lớp học, tách bậc tiểu học ra khỏi hệ thống phổ thông cơ sở và lập trường THCS liên xã, từng bước hoàn thành chương trình phổ cập tiểu học và thực hiện xóa mù chữ trong nhân dân. Sau gần 10 năm lập lại huyện, đến năm 1998 huyện Triệu Phong có 100% xã, thị trấn có trường học kiên cố và bán kiên cố, 8/19 xã, thị trấn có trường học cao tầng. Năm 1999, tỉnh đầu tư xây dựng thêm Trường THPT Chu Văn An, nâng trường THPT lên 2 trường, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập cho con em…
Trước yêu cầu phát triển mới, Đảng bộ, chính quyền huyện Triệu Phong tiếp tục ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, chính sách trên các lĩnh vực, vùng, miền cụ thể để khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, thúc đẩy kinh tế phát triển. Trong số các chỉ thị, nghị quyết đó có Nghị quyết số 08 của Huyện ủy “Về phát triển CN-TTCN và thương mại- dịch vụ đến năm 2015, có tính đến năm 2020”; Chỉ thị số 07 năm 2013 về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 04 năm 2011 về xây dựng nông thôn mới huyện Triệu Phong giai đoạn 2011- 2015; Kết luận số 20 năm 2013 về đẩy mạnh công tác dồn điền đổi thửa; Nghị quyết 02 năm 2016 về xây dựng cánh đồng lớn, phát triển trang trại, gia trại giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết 05 năm 2017 về khai thác tiềm năng, lợi thế vùng ven biển giai đoạn 2017-2020; Kế hoạch số 42 năm 2017 thực hiện Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy về đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025… Đồng thời đầu tư rất nhiều chương trình, dự án về hạ tầng cơ sở như điện, đường, thủy lợi... tạo điều kiện tốt nhất để người dân phát triển kinh tế.
Từ những chính sách, chương trình, dự án sát, đúng với tình hình thực tiễn đã thúc đẩy nền kinh tế- xã hội của huyện Triệu Phong có bước phát triển vững chắc. Năm 2018, giá trị sản xuất nônglâm- ngư nghiệp đạt 1.183,214 tỉ đồng. Đến nay, toàn huyện xây dựng mô hình cánh đồng lớn ở 43 hợp tác xã với diện tích 1.485 ha, trong đó lúa 1.470 ha, màu 15 ha, năng suất lúa bình quân cả năm 2018 đạt 56,4 tạ/ha. Nhiều địa phương đẩy mạnh sản xuất lúa canh tác tự nhiên, mô hình sản xuất lúa hữu cơ mở ra hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp. Giá trị sản xuất CN- TTCN đạt 587,814 tỉ đồng. Hiện nay, Cụm CN Ái Tử có 8 doanh nghiệp (DN) đang hoạt động sản xuất, kinh doanh ổn định. Cụm CN đông Ái Tử có diện tích gần 35 ha đang được đầu tư cơ sở hạ tầng để thu hút nhà đầu tư.
Đến nay, đã có 10 DN được tỉnh cấp quyết định chủ trương đầu vào cụm CN này. Ngoài ra, huyện Triệu Phong còn quy hoạch, đầu tư xây dựng các điểm CN ở nhiều địa phương. UBND huyện phối hợp chặt chẽ với Ban Quản lí Khu Kinh tế tỉnh hỗ trợ các nhà đầu tư khảo sát, lập dự án đầu tư trong Khu kinh tế Đông Nam như dự án của tập đoàn FLC, dự án khu CN đa ngành của Công ty Daewon (Hàn Quốc), dự án khu CN đa ngành của Công ty TNHH C&N Vina... Thương mại- dịch vụ tiếp tục phát triển, tổng giá trị đạt 1.557,954 tỉ đồng. Năm 2018, tỉ lệ hộ nghèo của huyện còn 6,6%, thu nhập bình quân đầu người đạt 39,1 triệu đồng. Đến cuối năm 2018, toàn huyện có 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới, số tiêu chí đạt bình quân 16,4 tiêu chí/xã, xã đạt thấp nhất 12 tiêu chí…

Tác giả bài viết: Nguyễn Vinh

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây